Giữ nghề cũ, mở lối đi mới
Giữa nhịp chuyển động nhanh của kinh tế thị trường, những làng nghề ở Thái Nguyên sau sáp nhập không chỉ đứng trước áp lực cạnh tranh mà còn đối diện nguy cơ mai một. Nhưng từ Làng nghề chè Shan Tuyết Bằng Phúc đến sản xuất miến dong Côn Minh, vẫn có những đơn vị bền bỉ giữ nghề, đổi mới cách làm để 'giữ lửa' - không chỉ tạo sinh kế hôm nay mà còn giữ gìn bản sắc cho mai sau.

Mùa thu hoạch ở Làng nghề chè Shan tuyết Bằng Phúc.
Phát triển sinh kế gắn với chuỗi giá trị
Những ngày cuối tháng Tư, khi nắng bắt đầu hong khô những triền núi phía Bắc, cũng là lúc nhịp sống ở các làng nghề nông thôn trở nên tất bật hơn. Trên vùng cao Đồng Phúc, trong làn sương sớm, những bàn tay người dân lại thoăn thoắt hái búp chè Shan tuyết - thứ sản vật đã nuôi sống bao thế hệ. Với hơn 300ha chè đang cho thu hoạch, gần 1.000 lao động tham gia, chiếm trên 60% lực lượng lao động, cây chè vẫn là trụ cột sinh kế của người dân.
Từ những cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi, người dân nơi đây đã từng bước hình thành nên vùng nguyên liệu đặc sản, phát triển theo chuỗi giá trị, với sự tham gia của các hợp tác xã và doanh nghiệp. Sản phẩm chè không chỉ tiêu thụ trong tỉnh mà đã có mặt tại nhiều thành phố lớn, từng bước tiếp cận thị trường quốc tế. Doanh thu của làng nghề trong hai năm gần đây ước đạt khoảng 31 tỷ đồng.

Sản phẩm chè Shan tuyết Bằng Phúc được công nhận OCOP 4 sao.
Đáng chú ý, làng nghề không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn giữ lại những giá trị văn hóa đặc trưng. Hơn 1.000 cây chè cổ thụ hàng trăm năm tuổi vẫn được gìn giữ, những tri thức bản địa trong canh tác, chế biến chè tiếp tục được truyền lại qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, để giữ được nghề trong bối cảnh hiện nay, chỉ dựa vào truyền thống là chưa đủ.
Ông Triệu Đức Thông, Phó Chủ tịch UBND xã Đồng Phúc, cho biết: Địa phương đã và đang triển khai các mô hình sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ; hỗ trợ người dân đầu tư cây giống, kỹ thuật chăm sóc, thu hái và máy móc, thiết bị sao sấy, từng bước thay thế phương thức thủ công.
“Muốn giữ được làng nghề thì phải nâng cao chất lượng sản phẩm và gắn với liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, đồng thời xây dựng một số mô hình du lịch sinh thái gắn với các cây chè cổ thụ tại địa phương. Để làm được điều đó, không thể thiếu khoa học công nghệ, từ giống, kỹ thuật chăm sóc đến chế biến, bảo quản và quảng bá thương hiệu” - ông Thông nhấn mạnh.
Ở một góc nhìn khác, Làng nghề chăn nuôi và chế biến sản phẩm từ ngựa bạch tại xóm Phẩm 2 (xã Kha Sơn) lại cho thấy một hướng đi mới. Với khoảng 30 hộ tham gia, các sản phẩm như cao ngựa bạch, giò ngựa, xúc xích ngựa… đã xây dựng được thương hiệu, trong đó có sản phẩm đạt OCOP 4 sao, từng bước khẳng định chỗ đứng trên thị trường.
Đổi mới để vươn xa
Tại Làng nghề miến dong Côn Minh, xã Côn Minh, người dân cũng đã từng bước thay đổi phương thức sản xuất. Từ những bếp tráng miến thủ công dậy từ 3- 4 giờ sáng, nhiều hộ đã liên kết thành hợp tác xã, đầu tư công nghệ, kiểm soát chất lượng sản phẩm. Với gần 50 hộ sản xuất thường xuyên, hàng chục cơ sở chế biến tinh bột và miến, mỗi năm địa phương cung ứng ra thị trường gần 1.000 tấn miến, doanh thu khoảng 50 tỷ đồng.
Chị Nguyễn Thị Hoan, Giám đốc Hợp tác xã Tài Hoan, xã Côn Minh, chia sẻ: Đơn vị có sản phẩm miến dong đạt tiêu chuẩn OCOP 5 sao cấp quốc gia và đã xuất khẩu sang thị trường châu Âu từ năm 2020. Trong quá trình sản xuất, chúng tôi đã thay đổi từ khâu nguyên liệu, quy trình sản xuất đến bao bì, truy xuất nguồn gốc để đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế.
Theo chị Hoan, việc tham gia chương trình OCOP không chỉ giúp nâng tầm sản phẩm mà còn thay đổi tư duy làm nghề của người dân, từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất theo chuỗi giá trị.

Nhiều sản phẩm của Làng nghề miến dong Côn Minh đã được xuất khẩu.
Câu chuyện ở Côn Minh cho thấy, khi làng nghề biết tận dụng lợi thế nguyên liệu, kết hợp với khoa học công nghệ và tổ chức sản xuất bài bản, thì không chỉ giữ được nghề mà còn có thể vươn ra những thị trường khó tính nhất.
Theo số liệu của Sở Nông nghiệp và Môi trường Thái Nguyên, đến cuối năm 2025, toàn tỉnh có 287 làng nghề được công nhận, với hơn 45.000 cơ sở sản xuất, tạo việc làm cho trên 63.000 lao động. Đây là lực lượng quan trọng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, giải quyết việc làm và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương.
Tuy nhiên, phía sau những con số đó là không ít thách thức. Phần lớn các làng nghề vẫn sản xuất theo quy mô hộ gia đình, thiết bị lạc hậu, chất lượng sản phẩm chưa đồng đều. Năng lực chuyển đổi số, xúc tiến thương mại còn hạn chế, khiến sản phẩm khó tiếp cận các thị trường lớn.
Ông Nguyễn Mỹ Hải, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thái Nguyên: Khó khăn lớn nhất hiện nay là sản xuất còn nhỏ lẻ, thiếu liên kết, giá trị gia tăng chưa cao. Bên cạnh đó, việc ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số còn hạn chế, đây là những điểm nghẽn cần tháo gỡ.
Theo ông Hải, trong thời gian tới cần tập trung xây dựng chuỗi giá trị, đẩy mạnh liên kết giữa người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp; tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển sản phẩm theo tiêu chuẩn chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của thị trường, đồng thời tăng cường đổi mới mẫu mã bao bì sản phẩm, xúc tiến thương mại và từng bước xây dựng thương hiệu.
Trong dòng chảy phát triển hôm nay, giữ nghề không chỉ là giữ một sinh kế. Đó còn là giữ lại ký ức, bản sắc và hồn cốt của mỗi vùng quê. Nhưng để ngọn lửa làng nghề tiếp tục cháy, chắc chắn cần thêm những “nguồn nhiên liệu mới” - từ khoa học công nghệ, tổ chức sản xuất đến thị trường tiêu thụ. Chỉ khi hội tụ đủ những yếu tố đó, làng nghề mới không chỉ tồn tại, mà còn vươn xa trong một nhịp sống mới.
Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/kinh-te/202605/giu-nghe-cu-mo-loi-di-moi-cdb1fb9/




![[Bài 2]: 'Đánh thức' du lịch biển Thanh Hóa](https://photo-baomoi.bmcdn.me/w250_r3x2/2026_05_01_3_55059271/e72ddd0d0745ee1bb754.jpg)






