Giữ sinh kế trong dòng chảy hiện đại hóa ngành chăn nuôi: Chuyên gia ILRI

Hiện đại hóa ngành chăn nuôi mở ra dự địa lớn cho tăng trưởng, song đằng sau quá trình ấy là sinh kế của hàng triệu hộ gia đình nông thôn, đặt ra yêu cầu chuyển đổi một cách thận trọng, bền vững và có trách nhiệm.

Ngành chăn nuôi chỉ có thể chuyển đổi bền vững khi bảo đảm đồng thời năng suất, công bằng và sinh kế cho hàng triệu hộ gia đình, theo nhận định của bà Shirley Tarawali, Phó Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI).

Bà Shirley Tarawali, Phó Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI). Ảnh: Kiều Thoan Thu

Bà Shirley Tarawali, Phó Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI). Ảnh: Kiều Thoan Thu

Chia sẻ với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội, bà Tarawali nhấn mạnh rằng chuyển đổi ngành chăn nuôi không chỉ là tăng trưởng mà phải gắn với bền vững và bao trùm. Theo bà, những con số về tỷ trọng đóng góp vào sản lượng nông nghiệp hay GDP chưa phản ánh đầy đủ vai trò của ngành, bởi chăn nuôi “nâng đỡ nhiều khía cạnh của xã hội, đặc biệt là sinh kế của hàng triệu hộ gia đình.”

Chăn nuôi không chỉ tạo thu nhập trực tiếp cho nông hộ mà còn tạo việc làm trong các khâu chế biến, phân phối và dịch vụ liên quan. Lĩnh vực này cũng có sự tham gia đáng kể của phụ nữ và mở ra cơ hội kinh tế cho thanh niên.

Ở góc độ dinh dưỡng, thực phẩm có nguồn gốc động vật như thịt, sữa và trứng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển thể chất và trí tuệ. Bà Tarawali lưu ý, nếu trẻ em không được bảo đảm dinh dưỡng, sự phát triển chiều cao và não bộ sẽ bị ảnh hưởng, qua đó tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai.

Tuy nhiên, bà nhấn mạnh tăng trưởng của ngành chỉ bền vững khi giải quyết đồng bộ các yếu tố môi trường, xã hội và kinh tế; nếu không, tăng trưởng dài hạn sẽ bị đe dọa. Nếu tính bền vững không được bảo đảm, tăng trưởng dài hạn có thể bị đe dọa.

Ba trụ cột của chuyển đổi chăn nuôi

Theo bà Tarawali, không có giải pháp đơn lẻ nào đủ sức tạo đột phá. Chuyển đổi chăn nuôi phải dựa trên ba trụ cột gồm năng suất, thị trường và thể chế.

Năng suất vật nuôi phụ thuộc vào sự phối hợp của nhiều yếu tố: phòng, chống dịch bệnh, lựa chọn giống phù hợp, môi trường chăn nuôi và cải thiện hệ thống thức ăn. Trong đó, chất lượng và hiệu quả sử dụng thức ăn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để bảo đảm vật nuôi chuyển hóa đầu vào thành thịt, sữa hoặc trứng một cách hiệu quả.

Bên cạnh đó, an toàn sinh học cần được tăng cường không chỉ ở cấp trang trại mà ở cấp hệ thống và cảnh quan, nhất là khi ngành mở rộng và thâm canh.

Tuy vậy, theo bà, nâng cao năng suất kỹ thuật thôi là chưa đủ, bởi sản phẩm chỉ thực sự gia tăng giá trị khi nông dân được gắn kết với thị trường và tham gia vào chuỗi giá trị. Do đó, tiếp cận cơ sở chế biến, tuân thủ tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, bảo đảm truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu thị trường là những yêu cầu thiết yếu.

Để hình thành được chuỗi giá trị như vậy, khung thể chế giữ vai trò then chốt, bởi đây là nền tảng tạo dựng môi trường vận hành ổn định và minh bạch. Do đó, hệ thống quản lý cần vừa tạo thuận lợi cho phát triển, vừa tránh tình trạng siết chặt quá mức làm chậm tăng trưởng hoặc buông lỏng gây rủi ro cho an toàn thực phẩm và tính bền vững.

Bà nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp đồng bộ các giải pháp về thức ăn, di truyền và quản lý dịch bệnh, thay vì triển khai rời rạc, để tạo ra mức tăng năng suất có thể đo lường.

Một trang trại nuôi gà thương phẩm tại xã Ứng Hòa, Hà Nội. Ảnh: Ngọc Ánh

Một trang trại nuôi gà thương phẩm tại xã Ứng Hòa, Hà Nội. Ảnh: Ngọc Ánh

Theo Phó Tổng Giám đốc ILRI, khoa học đóng vai trò kép: vừa tạo ra công nghệ, vừa cung cấp dữ liệu cho hoạch định chính sách và đầu tư.

“Nếu không có bằng chứng đáng tin cậy, nhà đầu tư và chính phủ có thể do dự khi phân bổ nguồn lực cho phát triển chăn nuôi”, bà nói.

“Chúng ta có thể tạo ra kết quả trong phòng thí nghiệm hoặc ngoài thực địa, nhưng nếu không có đầu tư và hỗ trợ thể chế, những kết quả đó sẽ không đến được với số đông nông dân,” bà Tarawali phân tích.

Tại Việt Nam, bà cho rằng rào cản lớn nằm ở tiếp cận tri thức và tài chính. Nông dân cần thông tin về thức ăn, phòng bệnh và thực hành bền vững, trong khi hệ thống tín dụng phải bảo đảm tính bao trùm, tạo cơ hội cho phụ nữ và thanh niên. Đồng thời, cần thúc đẩy khu vực tư nhân tham gia để tăng nguồn lực và liên kết thị trường.

"Việt Nam đang hướng tới mục tiêu chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, mục tiêu đó chỉ có thể trở thành hiện thực khi đồng thời bảo đảm ba yếu tố nền tảng là thông tin, tài chính và sự phối hợp thể chế," bà Tarawali nhấn mạnh.

Trong bối cảnh đó, bà đánh giá cao Chiến lược phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững giai đoạn 2026-2036 khi đã đặt sản xuất gắn với tiêu chí bền vững. Tuy nhiên, để chủ trương này đi vào cuộc sống, cần đầu tư đồng bộ và cơ chế phối hợp hiệu quả nhằm kết nối các tác nhân thành một hệ sinh thái chung thay vì vận hành riêng lẻ.

Hiện đại hóa chăn nuôi không làm đứt gãy sinh kế

Sản xuất nhỏ lẻ, phân tán vẫn là rào cản lớn của ngành chăn nuôi khi các hộ khó tiếp cận thị trường và dịch vụ đầu vào. Theo bà Tarawali, mô hình hợp tác xã có thể giúp tập hợp sản lượng, nâng cao vị thế đàm phán và tăng liên kết với doanh nghiệp.

Cùng với đó, cần thu hút đầu tư tư nhân, phát triển tín dụng gắn với tiêu chí bền vững và hoàn thiện môi trường pháp lý minh bạch để thúc đẩy hiện đại hóa.

Tuy nhiên, hiện đại hóa cũng đặt ra bài toán công bằng: duy trì mô hình nhỏ lẻ kém hiệu quả là không bền vững, nhưng chuyển đổi quá nhanh có thể làm đứt gãy sinh kế. Vì vậy, tái cấu trúc cần linh hoạt, cho phép một số hộ mở rộng quy mô, trong khi các hộ khác chuyển sang các khâu trong chuỗi giá trị.

Quá trình này đòi hỏi sự tham gia của toàn xã hội, nhằm bảo đảm tăng trưởng đi đôi với bền vững và bao trùm, không để người chăn nuôi bị bỏ lại phía sau.

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/giu-sinh-ke-trong-dong-chay-hien-dai-hoa-nganh-chan-nuoi-chuyen-gia-ilri-742286.html