Gỡ ba điểm nghẽn để hút FDI công nghệ cao
Lợi thế chi phí không còn đủ để Việt Nam hấp dẫn các dự án công nghệ cao, yếu tố quyết định ngày càng nằm ở năng lực của nền kinh tế. Điện năng, nhân lực công nghệ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là ba điểm nghẽn Việt Nam cần ưu tiên tháo gỡ. Đây là chia sẻ của TS. Đặng Thảo Quyên - Chủ nhiệm cấp cao Bộ môn Kinh doanh quốc tế, Đại học RMIT Việt Nam khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.

TS. Đặng Thảo Quyên
PV: Trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI chất lượng cao, Việt Nam đang phải cạnh tranh với nhiều nền kinh tế trong khu vực. Theo bà, điều gì sẽ quyết định sức cạnh tranh của Việt Nam?
TS. Đặng Thảo Quyên: Trong cuộc cạnh tranh thu hút FDI chất lượng cao hiện nay, tôi cho rằng thách thức của Việt Nam không còn nằm ở việc thu hút vốn, mà nằm ở khả năng hấp thụ công nghệ và các hoạt động giá trị gia tăng cao. Nếu nhìn vào các quyết định đầu tư mới của các tập đoàn trong lĩnh vực bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu hay R&D, có thể thấy họ không còn lựa chọn địa điểm chỉ dựa trên ưu đãi thuế hay chi phí lao động, mà ngày càng quan tâm đến chất lượng hạ tầng, nguồn nhân lực và năng lực đổi mới sáng tạo của hệ sinh thái.
PV: Vậy đâu là những “điểm nghẽn” Việt Nam cần tháo gỡ nhanh nhất để có thể thu hút được các tập đoàn công nghệ, các dự án R&D, bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu và các dự án có giá trị gia tăng cao, thưa bà?
TS. Đặng Thảo Quyên: Theo tôi, có ba điểm nghẽn Việt Nam cần tháo gỡ trước tiên.
Đầu tiên là hạ tầng năng lượng và khả năng cung cấp điện ổn định. Đây có lẽ là điểm nghẽn cấp bách nhất hiện nay đối với các dự án AI, bán dẫn và trung tâm dữ liệu quy mô lớn.
Mặc dù chi phí xây dựng trung tâm dữ liệu tại Việt Nam được đánh giá khá cạnh tranh trong khu vực, nhiều nhà đầu tư vẫn bày tỏ quan ngại về khả năng tiếp cận nguồn điện ổn định và thời gian triển khai kết nối lưới điện. Trong khi Malaysia, đặc biệt là bang Johor, đã chuẩn bị trước hạ tầng điện để đón làn sóng đầu tư trung tâm dữ liệu, còn Thái Lan đang đẩy mạnh đầu tư cho Hành lang Kinh tế phía Đông (EEC), Việt Nam vẫn đối mặt với nguy cơ thiếu hụt năng lực cung ứng điện tại một số khu vực thu hút đầu tư trọng điểm. Trong bối cảnh UNCTAD (Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển) ghi nhận đầu tư toàn cầu vào hạ tầng số tăng hơn 80% trong năm 2025, chủ yếu nhờ các dự án trung tâm dữ liệu, khả năng bảo đảm điện năng sẽ trở thành một lợi thế cạnh tranh quan trọng không kém ưu đãi đầu tư.
Điểm nghẽn thứ hai là nguồn nhân lực công nghệ và năng lực nghiên cứu phát triển (R&D). Đây mới là điểm nghẽn mang tính dài hạn.
Theo các báo cáo của VietnamWorks and TopDev vào năm 2025, số lượng kỹ sư bán dẫn và chuyên gia AI của Việt Nam còn rất hạn chế so với nhu cầu (thiếu hụt khoảng 150.000 - 200.000 nhân sự công nghệ thông tin mỗi năm trong giai đoạn gần đây), trong khi chi tiêu R&D chỉ quanh mức 0,5% GDP - thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc, Trung Quốc và cả một số nước ASEAN. Malaysia và Singapore đã xây dựng được hệ thống đào tạo gắn kết chặt với doanh nghiệp và có mật độ nhân lực R&D cao hơn, tạo lợi thế rõ rệt khi thu hút dự án thiết kế chip và trung tâm nghiên cứu. Ngân hàng Thế giới và OECD đều cảnh báo rằng, nguồn cung lao động kỹ năng cao đang trở thành một trong những ràng buộc lớn nhất đối với quá trình nâng cấp vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Điểm nghẽn cuối cùng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và liên kết doanh nghiệp trong nước. Việt Nam đã thu hút khá thành công các dự án sản xuất công nghệ cao, nhưng hoạt động nghiên cứu và phát triển vẫn còn hạn chế. OECD cho biết, đầu tư nước ngoài mới vào lĩnh vực R&D tại Việt Nam chỉ chiếm khoảng 2% tổng vốn đầu tư, thấp hơn mức trung bình của ASEAN và OECD. Điều đó cho thấy Việt Nam vẫn hấp dẫn hơn ở khâu sản xuất hơn là các hoạt động nghiên cứu, thiết kế và làm chủ công nghệ. Đồng thời, năng lực của doanh nghiệp hỗ trợ trong nước và cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ vẫn cần tiếp tục được cải thiện.
Trong khi đó, Singapore vượt trội nhờ hệ sinh thái hoàn chỉnh và thủ tục minh bạch; Malaysia và Thái Lan đang xây dựng cụm ngành chuyên sâu với ưu đãi gắn chặt với R&D và nội địa hóa.
Việt Nam cần cải thiện nhanh hơn về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đơn giản hóa cấp phép và tạo cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn việc chuyển giao công nghệ cùng phát triển nhà cung ứng Việt Nam.

Công nhân lắp ráp linh kiện điện tử tại nhà máy Panasonic Việt Nam. Ảnh: Đức Thanh
PV: Thu hút được dự án FDI chất lượng cao mới chỉ là bước đầu. Theo bà, Việt Nam cần làm gì để những dự án này thực sự tạo hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, năng suất, đào tạo nhân lực và hình thành chuỗi cung ứng trong nước, qua đó giúp khu vực doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng?
TS. Đặng Thảo Quyên: Thu hút được một dự án FDI chất lượng cao mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là làm thế nào để các dự án đó tạo ra năng lực mới cho nền kinh tế Việt Nam, thay vì chỉ tạo thêm năng lực sản xuất.
Thực tế cho thấy, Việt Nam đã thành công trong việc trở thành một trung tâm sản xuất quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, Ngân hàng Thế giới cũng lưu ý rằng mô hình tăng trưởng hiện nay vẫn đối mặt với một thách thức lớn là sự liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước còn hạn chế, khiến hiệu ứng lan tỏa về công nghệ và năng suất chưa tương xứng với quy mô đầu tư.
Các dự án thiết kế vi mạch, AI hay trung tâm R&D không thiếu vốn, mà thiếu kỹ sư và nhà nghiên cứu chất lượng cao. Nếu không đẩy nhanh liên kết giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời có chính sách thu hút chuyên gia quốc tế, Việt Nam sẽ khó cạnh tranh với Singapore, Malaysia hay Ấn Độ ở các khâu công nghệ cốt lõi - TS. Đặng Thảo Quyên nhấn mạnh.
Theo tôi, giai đoạn tới cần chuyển trọng tâm từ thu hút dự án sang phát triển hệ sinh thái xung quanh dự án. Các chính sách ưu đãi cần gắn nhiều hơn với cam kết về nghiên cứu phát triển (R&D), đào tạo nhân lực, sử dụng nhà cung ứng Việt Nam và chuyển giao công nghệ. Trong nhiều năm, chúng ta thường đánh giá FDI bằng số vốn đăng ký hoặc số vốn giải ngân. Nhưng với FDI thế hệ mới, những chỉ số quan trọng hơn có thể là số kỹ sư được đào tạo, số bằng sáng chế được tạo ra, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng và số hoạt động nghiên cứu phát triển được thực hiện tại Việt Nam. Đây cũng là tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc, Đài Loan hay Singapore cho thấy yếu tố quyết định không nằm ở số lượng doanh nghiệp FDI mà ở năng lực của doanh nghiệp trong nước để trở thành đối tác của các tập đoàn toàn cầu. Vì vậy, ưu tiên lớn của Việt Nam là nâng cấp doanh nghiệp nội địa, đặc biệt trong công nghiệp hỗ trợ và công nghệ. Hiệu ứng lan tỏa không tự xảy ra mà cần các chương trình phát triển nhà cung ứng, nâng cao tiêu chuẩn chất lượng và năng lực quản trị để doanh nghiệp Việt Nam đủ khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Bên cạnh đó, như đã đề cập ở trên, cần xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu. Các hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm công nghệ, đào tạo nhân lực và thương mại hóa kết quả nghiên cứu cần được triển khai trong cùng một hệ sinh thái. Đây chính là yếu tố giúp nhiều quốc gia chuyển từ vai trò trung tâm sản xuất sang trung tâm đổi mới sáng tạo.
Nếu làm được những điều này, FDI sẽ không chỉ tạo thêm việc làm hay tăng xuất khẩu, mà còn góp phần hình thành năng lực công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Khi đó, Việt Nam mới thực sự chuyển từ vị trí tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu sang từng bước nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó đóng góp nhiều hơn cho tăng trưởng bền vững.
PV: Xin cảm ơn bà!


