Gỡ điểm nghẽn để kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng
Với mục tiêu kinh tế số đóng góp tối thiểu 30% GDP vào năm 2030, các chuyên gia cho rằng, cần sớm tạo đột phá về thể chế, phát triển hạ tầng số và thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi số sâu rộng.
Kinh tế số - động lực tăng trưởng mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh doanh 2026 với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức, ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch VCCI cho biết, Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc chiến lược để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Theo đó, Nghị quyết của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã xác định, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực chính của mô hình tăng trưởng mới. Cùng với đó, Nghị quyết số 57 - NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đưa ra mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP, cho thấy khoa học công nghệ, chuyển đổi số đang được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với năng suất, tốc độ tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Diễn đàn thu hút sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp.
Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỉ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020. Tốc độ tăng trưởng 2 con số duy trì trong nhiều năm, nền kinh tế số Việt Nam vươn lên đứng thứ hai ở Đông Nam Á và ở nhóm nền kinh tế số phát triển nhanh nhất. Trong đó, thương mại điện tử tiếp tục giữ vai trò trụ cột khi chiếm 2/3 quy mô nền kinh tế số.
Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026 – 2030 đã đặt mục tiêu phấn đấu tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; tối thiểu có 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu.
Tuy nhiên, hiện nay, hạn chế về nguồn lực tài chính khiến nhiều doanh nghiệp khó đầu tư máy móc, công nghệ, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng trí tuệ nhân tạo.
Chia sẻ tại diễn đàn, các đại biểu cũng nhận định, kinh tế số đang nổi lên là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Giai đoạn 2020 - 2025, tỷ trọng kinh tế số trong GDP tăng từ 12,66% lên hơn 14%, tương đương quy mô trên 70 tỷ USD. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng của khu vực này luôn cao hơn mức tăng GDP chung, phản ánh xu hướng chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa trên công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng chỉ ra nhiều điểm nghẽn đang cản trở quá trình phát triển, gồm thể chế chưa theo kịp thực tiễn, hạ tầng số và dữ liệu chưa đồng bộ, năng lực công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế và thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao.
Gỡ điểm nghẽn, tạo đột phá cho kinh tế số
Ông Nguyễn Hữu Thập, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang khẳng định, Việt Nam không thiếu khát vọng số, không thiếu công nghệ, càng không thiếu tinh thần sáng tạo của đội ngũ doanh nhân. Điểm nghẽn lớn nhất không nằm ở thiết bị hay phần mềm, mà ở cơ chế biến dữ liệu thành tư liệu sản xuất, công nghệ thành năng suất, sáng kiến thành thị trường và quyết tâm thành kết quả đo đếm được.

Kinh tế số là động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới.
“Từ thực tiễn Tuyên Quang - một tỉnh miền núi, chúng tôi thấy rõ giá trị kinh tế và nhân văn của chuyển đổi số: Một thủ tục trực tuyến thực chất có thể bớt cho doanh nghiệp một chuyến đi, một ngày chờ; một mã truy xuất có thể đưa nông sản đến thị trường xa; một hệ thống quản trị tốt giúp cơ sở nhỏ giảm hao phí, minh bạch dòng tiền, tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn. Chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa khi khoảng cách địa lý không còn là khoảng cách cơ hội”, ông Thập nhấn mạnh.
Cũng theo ông Thập, nhìn từ doanh nghiệp, có ba điểm nghẽn gốc. Thứ nhất, ở không ít nơi, chúng ta mới số hóa lớp vỏ mà chưa tái thiết quy trình: hồ sơ nộp trực tuyến vẫn phải bổ sung bản giấy; dữ liệu Nhà nước đã có nhưng doanh nghiệp vẫn phải khai lại. Chỉ đưa quy trình cũ lên môi trường số, trong khi hồ sơ vẫn phải chờ xử lý như trước, thì chưa phải là cải cách.
Thứ hai, dữ liệu còn phân tán thành những “manh mún”, thiếu chuẩn kết nối và cơ chế chia sẻ rõ ràng. Nếu nông nghiệp cần đất, công nghiệp cần điện, thì kinh tế số cần dữ liệu và niềm tin. Dữ liệu không lưu thông thì không sinh giá trị; lưu thông thiếu an toàn thì không tạo được niềm tin.
Thứ ba, phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn phải “tự bơi” giữa vô vàn giải pháp, chi phí đầu tư, rủi ro an ninh mạng và thiếu nhân lực số. Doanh nghiệp không ngại đổi mới; họ ngại phần mềm không liên thông, quy trình số vẫn song hành giấy tờ và dự án không đo được hiệu quả.
“Muốn tháo đúng ba nút thắt ấy, cần nhất quán ba quyết tâm: Thông thể chế - nối dữ liệu - tiếp sức doanh nghiệp, cụ thể bằng năm việc làm ngay”, ông Thập kiến nghị.
Từ góc độ chính sách, ông Nguyễn Hoa Cương - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương) cho rằng, để kinh tế số thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần tạo đột phá về tư duy và thể chế phát triển. Trong đó, ưu tiên hoàn thiện khung pháp lý, mở rộng cơ chế thử nghiệm (sandbox) đối với các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, dữ liệu mở và tài sản số, đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn.
Theo ông Cương, bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, cần phát triển đồng bộ hạ tầng số, dữ liệu số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận công nghệ, tài chính và thị trường để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Cùng quan điểm, ông Nguyễn Huy Công, Viện trưởng Viện Phát triển Công nghệ tiên tiến - Viện Đổi mới sáng tạo Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho rằng, kinh tế số không thể phát triển lơ lửng nếu không cắm rễ vào hoạt động sản xuất, kinh doanh thực tế tại từng địa phương. Vì thế, đổi mới sáng tạo địa phương đóng vai trò hạt nhân cốt lõi thông qua 3 cơ chế chuyển hóa chính, trong đó phải giải bài toán thực tế bằng Giải pháp Số; chuyển đổi số Doanh nghiệp truyền thống (SMEs); và tạo dựng kinh tế dữ liệu địa phương…
