Gỡ điểm nghẽn mã số thuế, hướng tới cơ chế xử lý phù hợp
Việc xử lý các trường hợp người nộp thuế ở trạng thái 03 và 06 đang được đặt ra như một yêu cầu cần sớm có giải pháp phù hợp, nhất là với những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế hoặc không còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký. Trước những vướng mắc được các tổ chức nghề nghiệp phản ánh, Cục Thuế cho biết sẽ nghiên cứu, báo cáo cấp có thẩm quyền để xây dựng cơ chế tháo gỡ.
Nghiên cứu cơ chế mới trên cơ sở thực tiễn
Tại Công văn số 6480/CT-QLNT ngày 28/8/2026 trả lời kiến nghị của Hội Tư vấn Thuế Việt Nam và Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ Hàng hải Việt Nam, Cục Thuế ghi nhận những khó khăn liên quan đến nghĩa vụ và thủ tục thuế đối với người nộp thuế gặp vướng mắc trong quá trình chấm dứt hiệu lực mã số thuế.
Theo quy định quản lý thuế, trạng thái 03 được xác định đối với người nộp thuế ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế; trong khi trạng thái 06 là trường hợp người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Thực tế, việc xử lý các trường hợp này có thể phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế, hồ sơ và các thủ tục cần hoàn tất trước khi chấm dứt hiệu lực mã số thuế.

Ảnh minh hoạ: AI
Cục Thuế cho biết sẽ nghiên cứu, trình Bộ Tài chính, Chính phủ và Quốc hội xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định cơ chế tháo gỡ đối với người nộp thuế thuộc trạng thái 03 và 06. Theo định hướng được Cục Thuế nêu, việc nghiên cứu cơ chế này xuất phát từ yêu cầu xử lý những trường hợp đã ngừng hoạt động nhưng chưa thể hoàn tất thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế do còn tồn tại các vấn đề về nghĩa vụ thuế, hồ sơ hoặc thủ tục liên quan. Nếu có cơ chế phù hợp, việc phân loại và xử lý các trường hợp này sẽ có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn, đồng thời góp phần phản ánh sát hơn thực trạng hoạt động của người nộp thuế trên hệ thống quản lý.
Với trạng thái 06, vấn đề đặt ra cũng không chỉ nằm ở việc xác định một doanh nghiệp có còn hoạt động tại địa chỉ đăng ký hay không. Tình trạng này có thể ảnh hưởng tới quá trình thực hiện giao dịch thuế, trong đó có giao dịch liên quan đến hóa đơn điện tử. Vì vậy, việc nghiên cứu một phương thức xử lý phù hợp cần đồng thời bảo đảm yêu cầu quản lý, tính chính xác của dữ liệu và quyền, nghĩa vụ hợp pháp của người nộp thuế.
Tháo gỡ từ việc chuẩn hóa quy trình xử lý
Trước khi có đề xuất nghiên cứu cơ chế mới, Cục Thuế đã triển khai nhiều giải pháp nhằm xử lý các trường hợp tồn đọng về mã số thuế. Tại Công văn số 5299/CT-NVT ngày 28/7/2026 hướng dẫn thực hiện Chiến dịch “Làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, cơ quan thuế đã điều chỉnh mục tiêu và thời hạn xử lý đối với các nhóm người nộp thuế thuộc trạng thái 03 và 06.
Đối với doanh nghiệp, tổ chức đã ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn thành thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, mục tiêu được đặt ra là đến ngày 31/12/2026 xác định và xử lý 100% trường hợp không thuộc diện rủi ro cao, hoàn thành việc xác nhận nghĩa vụ thuế để người nộp thuế có thể tiếp tục thực hiện thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động với cơ quan đăng ký kinh doanh.
Đối với cơ quan nhà nước, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập đã ngừng hoạt động nhưng chưa chấm dứt hiệu lực mã số thuế, thời hạn xử lý được điều chỉnh đến ngày 31/12/2026 thay cho mốc 31/7/2026.
Với doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, cơ quan thuế đặt mục tiêu xử lý 100% trường hợp đã được thông báo không hoạt động tại địa chỉ đăng ký từ một năm trở lên để đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét xử lý vi phạm, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định. Ngoại lệ là những người nộp thuế đã liên hệ, làm việc với cơ quan thuế để thực hiện thủ tục khôi phục hiệu lực mã số thuế. Những trường hợp đủ điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế cũng được xem xét đề nghị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định.
Một yêu cầu đáng chú ý là khi thông tin của người đại diện theo pháp luật đã được xác minh, cơ quan thuế phải xử lý dứt điểm nghĩa vụ thuế, thực hiện chấm dứt hoặc khôi phục hiệu lực mã số thuế nếu người nộp thuế đủ điều kiện. Đối với doanh nghiệp thực hiện thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, Cục Thuế cũng yêu cầu không đặt thêm thủ tục ngoài quy định.
Đặc biệt, trường hợp doanh nghiệp không phát sinh hoạt động xuất nhập khẩu thì không phải thực hiện xác nhận nghĩa vụ với cơ quan hải quan và không bị yêu cầu liên hệ cơ quan hải quan để xác nhận tình trạng nợ hoặc hoàn thành nghĩa vụ hải quan. Quy định này nhằm tránh phát sinh thêm một khâu thủ tục không cần thiết đối với những trường hợp thực tế không có hoạt động xuất nhập khẩu.
Đối với những doanh nghiệp ở trạng thái 03 hoặc 06 không còn đủ điều kiện giao dịch điện tử, Công văn số 5299/CT-NVT cũng đưa ra hướng xử lý cụ thể. Trường hợp người nộp thuế đã gửi hồ sơ đề nghị chấm dứt hiệu lực mã số thuế nhưng sau đó được xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký thì không phải tiếp tục nộp hồ sơ khai thuế đối với các kỳ từ thời điểm gửi hồ sơ chấm dứt đến hiện tại, ngoại trừ hồ sơ quyết toán đến thời điểm chấm dứt và hồ sơ khai thuế đối với nghĩa vụ phát sinh sau đó.
Nếu hồ sơ khai thuế còn thiếu nhưng người nộp thuế không còn chữ ký số, không thể thực hiện giao dịch điện tử hoặc hệ thống không còn hỗ trợ mẫu hồ sơ tương ứng, cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn người nộp thuế thực hiện tại bộ phận một cửa.
Những yêu cầu này cho thấy việc “làm sạch” dữ liệu mã số thuế không chỉ nhằm tăng hiệu quả quản lý mà còn đặt ra yêu cầu chuẩn hóa cách thức xử lý hồ sơ, hạn chế phát sinh thủ tục không cần thiết đối với doanh nghiệp. Cục Thuế cũng yêu cầu cơ quan thuế địa phương chấn chỉnh trường hợp yêu cầu người nộp thuế thực hiện thêm thủ tục không được pháp luật quy định hoặc từ chối hồ sơ không có căn cứ; đồng thời xác định trách nhiệm nếu để xảy ra tình trạng gây khó khăn, phiền hà trong quá trình giải thể, chấm dứt hoạt động.
Trong bối cảnh đó, việc Cục Thuế tiếp tục nghiên cứu, báo cáo Bộ Tài chính, Chính phủ và Quốc hội về cơ chế xử lý đối với trạng thái 03 và 06 cần được xem là bước tiếp theo nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý từ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn. Trước mắt, các quy định và hướng dẫn hiện hành vẫn cần được thực hiện đầy đủ, thống nhất; về lâu dài, nếu được cấp có thẩm quyền chấp thuận, cơ chế mới sẽ tạo thêm cơ sở để xử lý những trường hợp đặc thù, đồng thời bảo đảm dữ liệu quản lý thuế phản ánh đúng hơn tình trạng hoạt động thực tế của người nộp thuế.

