Gỡ điểm nghẽn, nâng cao hiệu quả đầu tư cụm công nghiệp tại Đà Nẵng

Kỳ 1: Quy mô lớn, nhiều dư địa nhưng không ít điểm nghẽn

Cụm công nghiệp An Lưu đang có tỷ lệ lấp đầy cao nhưng vẫn còn nhiều bất cập.

Cụm công nghiệp An Lưu đang có tỷ lệ lấp đầy cao nhưng vẫn còn nhiều bất cập.

Đà Nẵng hiện có 63 cụm công nghiệp (CCN) đang hoạt động hoặc triển khai thủ tục đưa vào hoạt động, với tổng diện tích hiện trạng 1.760,22 ha. Theo quy hoạch đến năm 2030, thành phố dự kiến có 115 CCN, tổng diện tích khoảng 4.524,68 ha. Đây là quỹ đất sản xuất công nghiệp đáng kể, phân bố tại nhiều địa bàn, có vai trò thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tạo động lực phát triển sản xuất tại địa phương. Tuy nhiên, việc phát triển các CCN đang gặp nhiều điểm nghẽn, cần nhận diện, sớm tháo gỡ để phát huy hiệu quả đầu tư.

Hệ thống CCN tại Đà Nẵng đã thu hút hơn 450 doanh nghiệp, dự án đăng ký, trong đó khoảng 270 doanh nghiệp đang hoạt động, chiếm 60%. Một số cụm đạt tỷ lệ lấp đầy cao, tạo việc làm cho hàng nghìn lao động. CCN Trường Xuân 1 có 17 doanh nghiệp, tỷ lệ lấp đầy 100%, tạo việc làm cho gần 4.000 lao động. Tại CCN Đông Yên, doanh nghiệp FDI Sedo Vinako triển khai hai dự án, giải quyết việc làm cho khoảng 5.400 lao động. CCN Thanh Hà có 52/52 doanh nghiệp đang hoạt động; CCN Thanh Vinh mở rộng đạt tỷ lệ lấp đầy 100%; CCN Trảng Nhật 2 đạt khoảng 98%.

Đoàn khảo sát của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND thành phố khảo sát tình hình sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp dệt may đang hoạt động tại Cụm công nghiệp số 1 Tiên Cảnh, xã Thạnh Bình.

Đoàn khảo sát của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND thành phố khảo sát tình hình sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp dệt may đang hoạt động tại Cụm công nghiệp số 1 Tiên Cảnh, xã Thạnh Bình.

Một số CCN cũng đã được đầu tư hạ tầng tương đối đồng bộ. CCN Hà Lam - Chợ Được có hệ thống giao thông, thu gom nước thải và nhà máy xử lý nước thải công suất 500 m³/ngày đêm. CCN Trường Xuân 1 có hạ tầng giao thông, cấp điện, cấp nước và xử lý nước thải tập trung. CCN An Lưu có hệ thống xử lý nước thải công suất 700 m³/ngày đêm; CCN Đại Nghĩa 1 đã đầu tư một số hạng mục môi trường, cây xanh, chiếu sáng và phòng cháy, chữa cháy. Công tác GPMB cũng đạt một số kết quả tích cực, trong 48 CCN do UBND cấp xã quản lý, có 15 cụm đã hoàn thành GPMB, 30 cụm đã thực hiện một phần, với tổng diện tích đã GPMB khoảng 609,29 ha, đạt 60,37% diện tích cần GPMB theo số liệu rà soát. Bên cạnh nguồn vốn nhà nước, sự tham gia của doanh nghiệp trong đầu tư hạ tầng đã góp phần đa dạng hóa nguồn lực phát triển, giảm áp lực ngân sách và gắn trách nhiệm xây dựng công trình với hiệu quả khai thác quỹ đất. Những kết quả trên cho thấy CCN đã và đang đóng vai trò quan trọng trong bố trí mặt bằng sản xuất, thu hút đầu tư và tạo việc làm. Tuy nhiên, mức độ phát triển giữa các cụm còn chênh lệch đáng kể; kết quả thu hút doanh nghiệp chưa đồng nghĩa với việc hạ tầng và công tác quản lý đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu.

Pháp lý, quy hoạch chưa đồng bộ

Theo phân loại của Sở Công Thương, trong 63 CCN có 5 cụm cơ bản đủ điều kiện về pháp lý và hạ tầng; 22 cụm cơ bản đủ điều kiện pháp lý nhưng chưa hoàn thiện hạ tầng; 26 cụm chưa hoàn thiện cả pháp lý và hạ tầng; 6 cụm có vướng mắc pháp lý cần rà soát, điều chỉnh hoặc xem xét đưa ra khỏi quy hoạch; 4 cụm đang hoạt động nhưng chưa có quyết định thành lập. Đáng chú ý, một số CCN có sự khác biệt về diện tích, ranh giới giữa quyết định thành lập, quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 và phương án phát triển CCN. Một số cụm chưa có quy hoạch chi tiết được phê duyệt, chưa cập nhật đầy đủ ngành nghề thu hút đầu tư hoặc chịu ảnh hưởng từ các quy hoạch giao thông, đường sắt và công trình hạ tầng liên vùng. Những bất cập này không chỉ gây khó khăn cho công tác quản lý mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc xác định ranh giới đầu tư, tổ chức GPMB, giao đất, cho thuê đất và triển khai các công trình hạ tầng. Sau sắp xếp đơn vị hành chính, việc bàn giao hồ sơ quy hoạch, đất đai, đầu tư, tài sản và môi trường tại một số cụm chưa đầy đủ càng làm tăng khó khăn trong xác định trách nhiệm quản lý.

Bên cạnh đó, trong 48 CCN do UBND cấp xã quản lý, chỉ có 3 cụm hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật dùng chung; 45 cụm còn lại chưa hoàn thiện ở các mức độ khác nhau. Các hạng mục còn thiếu như: giao thông nội bộ, san nền, thoát nước, cấp điện, cấp nước, cây xanh, chiếu sáng và phòng cháy, chữa cháy... Tình trạng này tồn tại ngay cả ở những cụm có tỷ lệ lấp đầy cao như: CCN Trảng Nhật 2 đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 98% nhưng còn thiếu cây xanh cách ly và hệ thống xử lý nước thải tập trung. CCN Cẩm Sơn có tỷ lệ lấp đầy khoảng 71% nhưng chưa có hệ thống xử lý nước thải; CCN Chợ Lò còn thiếu các công trình môi trường và phòng cháy, chữa cháy. Theo số liệu rà soát, mới có 7 CCN được ghi nhận đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung, trong khi 53 cụm chưa có hoặc chưa hoàn thiện hệ thống này. Một số cụm còn thiếu hồ sơ môi trường hoặc giấy phép môi trường theo quy định. Đây là vấn đề cần được kiểm soát chặt chẽ, nhất là tại các khu vực tập trung ngành nghề chế biến, dệt may và vật liệu xây dựng. Bên cạnh đó, hạ tầng kết nối bên ngoài cũng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Một số CCN dọc Quốc lộ 14B chưa có đường gom; CCN Bồ Mưng chưa có điểm đấu nối thuận lợi với Quốc lộ 1A; đường giao thông lân cận CCN Bình An còn hạn chế về mặt cắt. Điều này làm tăng chi phí vận chuyển và giảm hiệu quả khai thác hạ tầng bên trong cụm.

GPMB và thu hút đầu tư còn nhiều bất cập

Trong 48 CCN do cấp xã quản lý, còn khoảng 400,044 ha chưa GPMB tại 30 cụm; 3 cụm chưa thực hiện GPMB. Nguyên nhân chủ yếu là khó khăn về nguồn vốn, thiếu quỹ đất tái định cư, vướng mắc nguồn gốc đất và hồ sơ qua nhiều thời kỳ, cùng với việc người dân chưa đồng thuận di dời, điều này khiến nhiều CCN chưa thể hoàn thiện hạ tầng hoặc bàn giao mặt bằng cho doanh nghiệp. Trong khi đó, một số địa phương có xu hướng chờ thu hút được nhà đầu tư mới triển khai GPMB, còn doanh nghiệp lại cần mặt bằng sạch và hạ tầng thiết yếu để quyết định đầu tư. Sự thiếu đồng bộ giữa hai khâu này khiến tiến độ phát triển bị kéo dài.

Thu hút đầu tư giữa các cụm cũng phân hóa rõ rệt. Trong khi CCN Trảng Nhật 2 đạt tỷ lệ lấp đầy khoảng 98%, CCN Đại An giai đoạn 1 khoảng 94% thì CCN Việt An chỉ đạt khoảng 7,18%, CCN Bình An khoảng 11,5% và CCN Gò Hoang chưa có dự án. Tuy nhiên, tỷ lệ lấp đầy cao chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả sử dụng đất, một số dự án đã được bố trí đất nhưng chậm triển khai, tạm dừng hoặc ngừng hoạt động như: CCN Trảng Nhật 1 có 3 cơ sở chậm triển khai và 2 cơ sở ngừng hoạt động; CCN Hà Lam - Chợ Được có 3 dự án tạm dừng, 2 chấm dứt; CCN Đông Phú 1 có dự án tạm dừng/ngừng; CCN Quế Thọ 3 có dự án duy nhất tạm ngừng,.. Một vấn đề khác là mô hình quản lý CCN còn phân tán. Trong 63 cụm, có 48 cụm do UBND cấp xã đầu tư, quản lý; 2 cụm có sự tham gia của cả Nhà nước và doanh nghiệp; 7 cụm do doanh nghiệp tư nhân đầu tư, quản lý; 2 cụm do Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại thuộc Sở Công Thương quản lý, đang làm thủ tục bàn giao; 4 cụm đang hoạt động nhưng chưa có quyết định thành lập. Một số cụm nằm trên địa bàn từ hai xã, phường trở lên chưa có đầu mối quản lý thống nhất như: CCN Hà Lam - Chợ Được nằm trên địa bàn xã Thăng Bình và xã Thăng An; CCN Ấp 5 nằm trên địa bàn xã Hà Nha và xã Đại Lộc; CCN Trảng Nhật 1 nằm trên địa bàn phường An Thắng và Điện Bàn Bắc; CCN Bình An nằm trên địa bàn xã Đồng Dương và Thăng Bình. Nếu không có quy chế phối hợp, đầu mối quản lý thống nhất thì việc quản lý tài sản, thu phí dịch vụ, đất đai, môi trường, duy tu hạ tầng và xử lý nhà đầu tư thứ cấp gặp nhiều khó khăn.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với thành phố là rà soát từng CCN, xác định rõ cụm nào cần ưu tiên hoàn thiện, cụm nào cần tháo gỡ pháp lý, cụm nào phải điều chỉnh quy hoạch hoặc xem xét đưa ra khỏi quy hoạch. Đây là cơ sở để chuyển từ phát triển theo số lượng, diện tích sang chú trọng hiệu quả khai thác và tính bền vững.

Minh Sơn (còn nữa)

Nguồn CAĐN: https://cadn.com.vn/go-diem-nghen-nang-cao-hieu-qua-dau-tu-cum-cong-nghiep-tai-da-nang-post360027.html