Gỡ nút thắt thể chế để đưa sáng chế ra thị trường

Thực tiễn ghi nhận ít công trình khoa học dù đã hoàn thiện, thậm chí có đầu ra tiềm năng, vẫn chưa thể bước ra khỏi phòng thí nghiệm. Nguyên nhân không chỉ nằm ở nguồn lực, mà còn xuất phát từ những rào cản về cơ chế, quy trình và sự thiếu đồng bộ trong liên kết giữa nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TPHCM) Ảnh: website nhà trường.

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TPHCM) Ảnh: website nhà trường.

Trong bối cảnh khoa học công nghệ được xác định là động lực tăng trưởng mới, việc đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường trở thành yêu cầu cấp thiết. Tuy nhiên, thực tế cho thấy không ít sản phẩm dù đã hoàn thiện, thậm chí có doanh nghiệp quan tâm, vẫn “kẹt” lại trong phòng thí nghiệm.

Một trong những rào cản lớn nhất là cơ chế sở hữu và định giá tài sản trí tuệ. PGS.TS Phạm Trần Vũ, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa TP.HCM, dẫn chứng trường hợp một nhóm nghiên cứu đã phát triển thành công thiết bị đo nước điện tử, có khả năng truyền dữ liệu từ xa. Sản phẩm đã hoàn thiện, đăng ký bản quyền và có doanh nghiệp muốn tiếp nhận để thương mại hóa. Tuy nhiên, quá trình chuyển giao bị đình trệ khi “các bên không tìm được cơ chế phù hợp để định giá và chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ”.

Theo ông Vũ, nguyên nhân nằm ở việc đề tài sử dụng ngân sách nhà nước nên kết quả nghiên cứu được xem là tài sản công. “Khi đó, các bên không rõ cách thức chuyển nhượng, khai thác hay chia sẻ lợi ích đối với loại tài sản này”, ông nói. Trong khi doanh nghiệp không thể chờ đợi quá lâu, kết quả là cơ hội thương mại hóa bị bỏ lỡ, còn sản phẩm tiếp tục nằm lại trong phòng thí nghiệm.

Không chỉ vướng ở sở hữu trí tuệ, thủ tục hành chính kéo dài cũng là một điểm nghẽn lớn. Ở mô hình Nhà nước tài trợ, dù có lợi thế về định hướng chiến lược và nguồn lực, nhưng nhiều đề tài phải mất nhiều năm để phê duyệt. “Đến khi triển khai thì nội dung đã lạc hậu”, ông Vũ nhận định. Ngoài ra, việc không phải bỏ vốn cũng khiến một số doanh nghiệp chưa thực sự cam kết tham gia sâu vào quá trình nghiên cứu.

Ngay cả khi doanh nghiệp cùng tham gia đồng tài trợ, những vướng mắc về thủ tục và quy định tài sản công vẫn chưa được tháo gỡ triệt để. “Quy trình phức tạp làm giảm động lực của doanh nghiệp, nhất là khi họ vừa phải bỏ vốn vừa chịu nhiều ràng buộc”, ông Vũ phân tích.

Ở chiều ngược lại, mô hình doanh nghiệp đặt hàng trực tiếp cho nhà trường được đánh giá hiệu quả hơn vì gắn với nhu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, hạn chế lại nằm ở năng lực của doanh nghiệp. Phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là nhỏ và vừa, khó có đủ nguồn lực để đầu tư cho các dự án R&D dài hạn, vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Bên cạnh các vấn đề về cơ chế và nguồn lực, một điểm nghẽn khác là sự lệch pha về mục tiêu giữa các bên. Doanh nghiệp cần sản phẩm có thể ứng dụng nhanh và mang lại lợi nhuận, trong khi các cơ sở nghiên cứu thường theo đuổi mục tiêu học thuật dài hạn. Cơ quan quản lý lại chú trọng quy trình và hiệu quả sử dụng ngân sách. Sự khác biệt này khiến quá trình hợp tác thiếu sự đồng bộ, khó tạo ra sản phẩm có khả năng thương mại hóa cao.

Thực tế cũng cho thấy, hệ sinh thái hỗ trợ chuyển giao công nghệ còn thiếu đồng bộ. Các tổ chức trung gian như trung tâm chuyển giao công nghệ, vườn ươm hay quỹ đầu tư khoa học công nghệ chưa phát triển tương xứng, khiến việc kết nối giữa nghiên cứu và thị trường còn rời rạc.

Trong bối cảnh đó, nhiều ý kiến cho rằng cần thay đổi cách tiếp cận chính sách. Theo PGS.TS Phạm Trần Vũ, Nhà nước nên chuyển từ tư duy “đặt hàng sản phẩm” sang “tài trợ nghiên cứu”. Cách tiếp cận này sẽ giúp giảm bớt các ràng buộc hành chính, tạo không gian linh hoạt hơn cho nhà khoa học và doanh nghiệp. Đồng thời, cần làm rõ khung pháp lý về sở hữu trí tuệ để “giải phóng các kết quả nghiên cứu ra khỏi ‘vùng xám’ của tài sản công”.

Theo ông Vũ, nguyên nhân nằm ở việc đề tài sử dụng ngân sách nhà nước nên kết quả nghiên cứu được xem là tài sản công. “Khi đó, các bên không rõ cách thức chuyển nhượng, khai thác hay chia sẻ lợi ích đối với loại tài sản này”, ông nói. Trong khi doanh nghiệp không thể chờ đợi quá lâu, kết quả là cơ hội thương mại hóa bị bỏ lỡ, còn sản phẩm tiếp tục nằm lại trong phòng thí nghiệm.

Ở góc độ quản lý, bà Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng phòng Phát triển khoa học công nghệ (Sở KHCN TPHCM), cho biết các quy định mới đã bắt đầu phân định rõ giữa “đặt hàng” và “tài trợ”. Theo đó, với nhiệm vụ tài trợ hoặc đồng tài trợ, tổ chức chủ trì được quyền sở hữu kết quả nghiên cứu và chủ động thương mại hóa. “Cơ chế mới cho phép thương mại hóa linh hoạt hơn, đồng thời bảo đảm quyền lợi của nhà khoa học”, bà Sương nhấn mạnh.

Một số mô hình hợp tác thành công cũng cho thấy khi có sự kết hợp hiệu quả giữa “ba nhà”, kết quả nghiên cứu hoàn toàn có thể đi vào thị trường. Đại diện một doanh nghiệp tại Khu công nghệ cao TPHCM cho biết, thành công của họ trong phát triển đồng hồ nước thông minh đến từ việc Nhà nước đóng vai trò định hướng và tạo thị trường, doanh nghiệp trực tiếp đầu tư phát triển sản phẩm, còn các trường đại học hỗ trợ nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ.

Từ góc độ doanh nghiệp, nhà sáng chế Lưu Hải Minh, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Công nghệ mới Nhật Hải (OIC New) chia sẻ trong hành trình thương mại hóa sáng chế còn gặp nhiều khó khăn do thiếu hành lang pháp lý rõ ràng về định giá tài sản trí tuệ và chính sách thuế còn bất cập. Doanh nghiệp phải tự xoay xở để tiếp cận vốn, trong khi tài sản trí tuệ chưa được công nhận rộng rãi như tài sản đảm bảo. Những đối tác chiến lược của công ty như Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam… có sự liên kết chặt chẽ trong nhiều dự án song quá trình đưa kết quả ra thị trường vẫn chưa thực sự thuận lợi. Theo ông Minh, dù đã có nền tảng hợp tác giữa doanh nghiệp và các viện, trường, nhưng khi bước sang giai đoạn thương mại hóa, nhiều rào cản lại xuất hiện, đặc biệt là ở khâu chuyển giao công nghệ, định giá sáng chế và phân chia lợi ích giữa các bên.

Thực tế đây cũng là bài toán khó nhiều doanh nghiệp và viện, trường đang phải đối mặt hiện nay. Trong khi doanh nghiệp cần tốc độ và sự linh hoạt để nắm bắt cơ hội thị trường, thì các quy trình liên quan đến tài sản trí tuệ, nhất là với những đề tài có sử dụng ngân sách nhà nước, lại khá phức tạp và kéo dài. Điều này khiến không ít cơ hội hợp tác bị bỏ lỡ, thậm chí có những sản phẩm tiềm năng phải dừng lại ở quy mô thử nghiệm.

Vì vậy, cần quyết liệt tháo gỡ những điểm nghẽn trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu: từ cơ chế sở hữu trí tuệ, thủ tục hành chính, mô hình hợp tác đến năng lực của doanh nghiệp và hệ sinh thái hỗ trợ, tất cả đều cần được điều chỉnh đồng bộ. Chỉ khi các rào cản này được tháo gỡ một cách thực chất, kết quả nghiên cứu mới có thể vượt qua “khoảng cách” từ phòng thí nghiệm đến thị trường, trở thành động lực cho tăng trưởng dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo.

Thu Hương

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/go-nut-that-the-che-de-dua-sang-che-ra-thi-truong.html