Hà Nội: Gỡ nút thắt nguyên liệu, tạo đà cho sản phẩm OCOP phát triển

Hà Nội hiện có 3.500 sản phẩm OCOP đạt từ 3 sao trở lên, trong đó nhiều sản phẩm gắn với các làng nghề truyền thống, có thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.

Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh khiến quỹ đất sản xuất, vùng nguyên liệu tại chỗ ngày càng thu hẹp, trong khi nhu cầu nguyên liệu của các cơ sở không ngừng tăng.

Phát triển vùng nguyên liệu theo hướng ổn định, có quy hoạch, bảo đảm chất lượng và truy xuất được nguồn gốc đang trở thành yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng để nâng cao giá trị, sức cạnh tranh và phát triển bền vững sản phẩm OCOP của Thủ đô.

Hà Nội có 68 làng nghề mây tre đan với hàng trăm sản phẩm OCOP cần nguồn nguyên liệu khá lớn cho sản xuất. Ảnh: NM

Hà Nội có 68 làng nghề mây tre đan với hàng trăm sản phẩm OCOP cần nguồn nguyên liệu khá lớn cho sản xuất. Ảnh: NM

Áp lực từ nhu cầu nguyên liệu

Từ năm 2019 đến năm 2025, gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh, xã Phú Nghĩa, có 25 sản phẩm được chứng nhận OCOP đạt 3 sao và 4 sao. Theo ông Nguyễn Văn Tĩnh, Chủ tịch Hội Mây tre Phú Nghĩa, không riêng gia đình mình, nghề mây tre đan đã tạo sinh kế cho nhiều hộ dân địa phương, đồng thời đưa sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Hà Nội đến với thị trường quốc tế.

Hội Mây tre Phú Nghĩa hiện có 120 thành viên, gồm 36 doanh nghiệp và 84 cơ sở sản xuất. Các sản phẩm chủ lực là hàng mây tre đan, đồ trang trí kết hợp với nhiều chất liệu như gốm, da...

Để duy trì hoạt động, nhu cầu nguyên liệu mây, song của các cơ sở trong Hội lên tới hàng chục tấn mỗi năm. Trong khi đó, vùng nguyên liệu tại địa phương gần như không còn, khiến các cơ sở phải tìm kiếm nguồn cung từ nhiều tỉnh, thành phố khác.

Ông Nguyễn Văn Tĩnh cho biết, việc thu mua nguyên liệu hiện phụ thuộc đáng kể vào nguồn khai thác tự nhiên. Nếu không có kế hoạch phát triển vùng trồng, khai thác và tái tạo phù hợp, nguồn cung sẽ khó duy trì lâu dài.

Một số cơ sở đã thử nghiệm đưa vật liệu mới như xơ mướp, xơ dừa, tơ chuối vào sản xuất nhằm tạo sự khác biệt cho sản phẩm. Tuy nhiên, những vật liệu này chưa thực sự phù hợp với kỹ thuật đan truyền thống của làng nghề, nên chưa thể thay thế nguyên liệu chủ lực.

Thực tế tại Phú Nghĩa cho thấy, để phát triển sản phẩm OCOP gắn với làng nghề, bên cạnh cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và mở rộng thị trường, việc chủ động nguồn nguyên liệu cần được xác định là một khâu quan trọng trong chuỗi sản xuất. Khi nguồn cung thiếu ổn định, các cơ sở khó chủ động kế hoạch sản xuất, kiểm soát chi phí và đáp ứng những đơn hàng dài hạn.

Tình trạng này cũng được ghi nhận tại Hạ Thái, xã Chuyên Mỹ, nơi nổi tiếng với nghề sơn mài và sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu. Sản phẩm của làng nghề đã có mặt tại nhiều thị trường như Anh, Pháp, Nga, Mỹ, Tây Ban Nha, Australia, Italy, Nhật Bản, Hàn Quốc... Doanh thu của nhiều hộ sản xuất đạt khoảng 150 triệu đồng mỗi năm, trong khi một số doanh nghiệp đạt doanh thu hàng tỷ đồng.

Theo Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất tre sơn mài xuất khẩu Hạ Thái Đoàn Cao Bổng, nhu cầu nguyên liệu của doanh nghiệp rất lớn. Nguồn cung ổn định không chỉ giúp duy trì sản xuất mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp ký kết, thực hiện các đơn hàng dài hạn, đáp ứng yêu cầu về tiến độ và chất lượng của đối tác quốc tế. Vì vậy, xây dựng mối liên kết bền vững với các vùng cung ứng nguyên liệu là yêu cầu thiết thực đối với doanh nghiệp cũng như các cơ sở sản xuất trong làng nghề.

Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh (xã Phú Nghĩa) thao tác các sản phẩm mây tre đan. Ảnh: NM

Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh (xã Phú Nghĩa) thao tác các sản phẩm mây tre đan. Ảnh: NM

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, thành phố hiện có 3.531 sản phẩm OCOP được đánh giá, phân hạng từ 3 sao trở lên, gồm 18 sản phẩm 5 sao, 22 sản phẩm tiềm năng 5 sao, 1.584 sản phẩm 4 sao và 1.907 sản phẩm 3 sao. Trong số đó, sản phẩm từ các làng nghề chiếm tỷ trọng đáng kể, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.

Quy mô sản xuất lớn cũng đặt ra yêu cầu tương ứng về nguồn nguyên liệu. Riêng nhóm nghề mây tre đan, cỏ tế sử dụng các loại nguyên liệu như lục bình, cói, cỏ bàng... có nhu cầu khoảng 5.000 tấn mỗi năm. Đối với sản xuất gốm sứ, nhu cầu các loại đất sét trắng, cao lanh, thạch anh, trường thạch khoảng 72.000 tấn mỗi năm.

Đáng chú ý, 68 làng nghề mây tre đan sử dụng bương, tre với nhu cầu khoảng 200.000 tấn mỗi năm; nhu cầu mây khoảng 2.200 tấn, song 1.000 tấn, giang khoảng 500.000 cây mỗi năm. Các làng nghề chế biến thủ công mỹ nghệ cũng cần lượng lớn gỗ, trai, ốc, sừng trâu, bò..., trong đó riêng nhu cầu gỗ đã vượt 100.000m³ mỗi năm.

Liên kết vùng, xây dựng nguồn cung dài hạn

Nhận diện những khó khăn về nguyên liệu, thời gian qua, Hà Nội đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy sản xuất hàng hóa tập trung, hình thành các vùng nguyên liệu gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Thành phố quan tâm quy hoạch vùng chuyên canh, hỗ trợ các cơ sở sản xuất, đồng thời khuyến khích liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất.

Tuy nhiên, phần lớn vùng nguyên liệu phục vụ các làng nghề vẫn phân tán, quy mô nhỏ, chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất hàng hóa lớn. Việc xây dựng vùng nguyên liệu đạt các tiêu chuẩn như hữu cơ, VietGAP, GlobalGAP, HACCP; thiết lập mã vùng trồng, xây dựng thương hiệu và bảo đảm truy xuất nguồn gốc cũng chưa được quan tâm đúng mức ở một số địa phương, chủ thể OCOP. Trong khi đó, yêu cầu của thị trường ngày càng cao, đòi hỏi nguyên liệu không chỉ đủ về số lượng mà còn phải bảo đảm chất lượng, tính ổn định và khả năng kiểm soát nguồn gốc.

Các sản phẩm OCOP được chế tác từ chất liệu sừng, vỏ trai ốc ở nhiều làng nghề Hà Nội phải nhập nguyên liệu từ các tỉnh thành phố trên cả nước thậm chí là nhập khẩu từ nước ngoài. Ảnh: NM

Các sản phẩm OCOP được chế tác từ chất liệu sừng, vỏ trai ốc ở nhiều làng nghề Hà Nội phải nhập nguyên liệu từ các tỉnh thành phố trên cả nước thậm chí là nhập khẩu từ nước ngoài. Ảnh: NM

Để tháo gỡ khó khăn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đã tổ chức các hoạt động khảo sát, kết nối với những địa phương có tiềm năng cung ứng nguyên liệu. Mới đây, đoàn công tác của Sở làm việc tại tỉnh Khánh Hòa và thành phố Đà Nẵng nhằm tìm kiếm đối tác, mở rộng nguồn cung cho các làng nghề mây tre đan, khảm trai và sản xuất thủ công mỹ nghệ của Thủ đô.

Những kết nối bước đầu này cho thấy, khi nhu cầu của doanh nghiệp được gắn với năng lực cung ứng của hợp tác xã và người sản xuất tại địa phương, việc phát triển vùng nguyên liệu sẽ có cơ sở thực hiện rõ ràng hơn. Cam kết thu mua giúp bên cung ứng yên tâm tổ chức sản xuất, trong khi doanh nghiệp chủ động hơn về kế hoạch nguyên liệu, chi phí và tiến độ giao hàng. Đây cũng là hướng đi cần được mở rộng, gắn với cơ chế hợp tác minh bạch và trách nhiệm của các bên trong suốt chuỗi cung ứng.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội Nguyễn Đình Hoa, triển khai Đề án tổng thể phát triển làng nghề giai đoạn 2025-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội tiếp tục tổ chức các đoàn công tác kết nối vùng nguyên liệu giữa doanh nghiệp, làng nghề với các tỉnh, thành phố trong cả nước. Cùng với hoạt động kết nối, việc xây dựng các vùng trồng, vùng khai thác theo hướng bền vững, khuyến khích tái tạo nguyên liệu, nâng cao chất lượng sơ chế và hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc cần được chú trọng.

Về lâu dài, phát triển vùng nguyên liệu phải trở thành một khâu xuyên suốt trong chuỗi giá trị sản phẩm OCOP, từ tổ chức sản xuất, thu mua, chế biến đến xây dựng thương hiệu và tiêu thụ. Khi nguồn cung được bảo đảm, các chủ thể OCOP sẽ có điều kiện nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường và gia tăng giá trị kinh tế. Đây không chỉ là giải pháp tháo gỡ khó khăn trước mắt cho các làng nghề mà còn tạo nền tảng để sản phẩm OCOP Hà Nội phát triển ổn định, bền vững, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy kinh tế nông thôn của Thủ đô.

Bài viết có sự phối hợp với Văn phòng Điều phối các Chương trình mục tiêu quốc gia thành phố Hà Nội.

Minh Phú

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/ha-noi-go-nut-that-nguyen-lieu-tao-da-cho-san-pham-ocop-phat-trien-1759137.html