Hà Nội muốn tăng trưởng hai con số, doanh nghiệp cần gì để bứt tốc?

Trong bối cảnh Hà Nội hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số, câu chuyện làm thế nào để chuyển những lợi thế về vị thế, công nghệ, thị trường và nhân lực thành kết quả kinh tế thực chất đang trở nên cấp thiết.

Tại Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ III năm 2026 (CEF III) tổ chức vào chiều 8/10 với chủ đề “Động lực tăng trưởng từ nguồn nhân lực chất lượng cao”, các chuyên gia và đại diện cộng đồng doanh nghiệp tập trung thảo luận về khả năng khai thác nguồn lực, nâng năng suất và tạo thêm dư địa tăng trưởng cho Hà Nội.

Nguồn lực lớn nhưng tăng trưởng chưa tương xứng

Theo ông Nguyễn Vân, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp ngành Công nghiệp hỗ trợ TP. Hà Nội (HANSIBA), mục tiêu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 đòi hỏi sự đóng góp rất lớn của khu vực doanh nghiệp tư nhân.

Trong khi đó, GRDP Hà Nội 6 tháng đầu năm tăng 8,22%, cho thấy áp lực tăng trưởng trong phần còn lại của năm không nhỏ. Để đạt mục tiêu đề ra, Thành phố cần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và phát triển thị trường.

Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ III năm 2026 (CEF III).

Diễn đàn Kinh tế Thủ đô lần thứ III năm 2026 (CEF III).

Nhìn ở giai đoạn dài hơn, chuyên gia kinh tế, PGS.TS Trần Đình Thiên cho rằng Hà Nội sở hữu nhiều lợi thế mà ít địa phương có được, từ vị thế Thủ đô, khả năng tập trung nguồn lực, tri thức, nhân tài đến quy mô thị trường và mức độ hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên, những lợi thế này chưa được chuyển hóa đầy đủ thành kết quả tăng trưởng.

Giai đoạn 2011-2020, GRDP Hà Nội tăng bình quân 6,83%/năm, thấp hơn đáng kể mục tiêu chiến lược 12-13%/năm. Giai đoạn 2020-2024, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 5,79%/năm, thấp hơn một số địa phương trong vùng như Hải Phòng, Hưng Yên và Quảng Ninh.

Đáng chú ý, năm 2024, tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo của Hà Nội đạt 53,9%, cao hơn nhiều mức bình quân 28,4% của cả nước. Tuy nhiên, quy mô doanh nghiệp vẫn chủ yếu là nhỏ và siêu nhỏ. Doanh nghiệp có dưới 10 lao động chiếm 77,8%, nhóm từ 10-49 lao động chiếm 18,3%.

Giai đoạn 2015-2024, số doanh nghiệp tăng 56,7%, nhưng số lao động chỉ tăng 19,9%. Những con số này đặt ra yêu cầu không chỉ gia tăng số lượng doanh nghiệp mà còn phải tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng quy mô và nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh.

Theo ông Thiên, vấn đề quyết định không còn là Hà Nội sở hữu bao nhiêu lợi thế, mà là khả năng tổ chức và sử dụng những lợi thế đó để tạo ra giá trị mới.

Ở cấp độ doanh nghiệp, GS.TS Mạc Quốc Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME), cũng đặt vấn đề tăng trưởng từ hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Theo ông, công nghệ, vốn và thị trường là những điều kiện quan trọng, nhưng để chuyển hóa thành kết quả sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp phải có đội ngũ nhân lực đủ năng lực vận hành.

“Chúng ta không chỉ nói về bằng cấp, chức danh hay một nhóm nhân sự quản lý, mà quan trọng là năng lực thực thi”, GS.TS Mạc Quốc Anh nhấn mạnh.

Ông cho rằng nhân lực chất lượng cao cần được đánh giá thông qua năng suất, giá trị gia tăng, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh. Doanh nghiệp phải xác định được những năng lực còn thiếu, từ quản trị, tài chính, đầu tư đến công nghệ, thị trường và sản xuất.

Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu tăng trưởng của Hà Nội không chỉ nằm ở việc bổ sung vốn đầu tư hay mở rộng thị trường, mà còn phụ thuộc vào khả năng hấp thụ và sử dụng hiệu quả những nguồn lực đã có.

Gỡ nút thắt vốn, thị trường và nhân lực cho doanh nghiệp

Từ thực tiễn hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia nhận định kinh tế vĩ mô ổn định, đầu tư hạ tầng được đẩy mạnh, thị trường tiêu dùng và dịch vụ phục hồi là những điều kiện thuận lợi đối với doanh nghiệp Hà Nội. Đặc biệt, các chương trình đầu tư công, phát triển hạ tầng giao thông, logistics, chuyển đổi số và thu hút đầu tư đang mở thêm cơ hội kinh doanh.

Chuyên gia kinh tế, PGS.TS Trần Đình Thiên.

Chuyên gia kinh tế, PGS.TS Trần Đình Thiên.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp hiện nay vẫn là thị trường và dòng tiền. Một bộ phận doanh nghiệp sản xuất, xây dựng và công nghiệp hỗ trợ tiếp tục chịu áp lực về đơn hàng, trong khi yêu cầu của khách hàng đối với chất lượng, giá thành và tiến độ ngày càng cao.

Về vốn, mặc dù mặt bằng lãi suất đã thuận lợi hơn trước, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó trong tiếp cận tín dụng, nhất là nguồn vốn trung và dài hạn.

Theo ông Thiên, vấn đề không chỉ nằm ở mức lãi suất mà còn ở điều kiện vay vốn. Không ít doanh nghiệp có dự án, có thị trường nhưng thiếu tài sản bảo đảm hoặc chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tín dụng.

Cùng với đó, chi phí đất đai, mặt bằng sản xuất, logistics, nguyên vật liệu, nhân công và tuân thủ pháp luật tiếp tục tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh.

Đáng chú ý, doanh nghiệp không chỉ thiếu lao động phổ thông mà ngày càng thiếu nhân lực có kỹ năng trong các lĩnh vực công nghệ, quản trị, tự động hóa, chuyển đổi số và công nghiệp hỗ trợ.

Để giải quyết, các chuyên gia cho rằng trước hết doanh nghiệp phải chủ động đổi mới quản trị, nâng năng suất, tiết giảm chi phí, ứng dụng khoa học công nghệ và phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn và chuỗi giá trị trong nước, quốc tế.

Về phía chính quyền, cần tập trung vào 4 nhóm giải pháp: cải cách thủ tục hành chính; cải thiện khả năng tiếp cận vốn và mặt bằng sản xuất; hỗ trợ phát triển thị trường; tăng cường liên kết đào tạo nhân lực.

Trong đó, đối với nguồn vốn, Thành phố cần tiếp tục phối hợp với hệ thống ngân hàng để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có phương án kinh doanh tốt, dự án khả thi tiếp cận tín dụng.

Chuyên gia cũng kiến nghị nghiên cứu các cơ chế bảo lãnh, hỗ trợ lãi suất hoặc kết nối tín dụng, ưu tiên doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, đổi mới sáng tạo và các dự án chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.

Về thị trường, cần đẩy mạnh kết nối doanh nghiệp Hà Nội với các tập đoàn lớn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tạo điều kiện để doanh nghiệp nội địa trở thành nhà cung ứng.

Đối với nguồn nhân lực, yêu cầu đặt ra là tăng cường hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, bảo đảm đào tạo đúng những kỹ năng mà thị trường lao động cần.

Ông Nguyễn Vân đánh giá Hà Nội đã có những chuyển động tích cực trong hỗ trợ kinh tế tư nhân, nhất là thông qua các chính sách về môi trường đầu tư, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Tuy nhiên, điều doanh nghiệp mong muốn là rút ngắn khoảng cách từ chính sách đến thực tế. Những chính sách có mục tiêu tốt nhưng thủ tục phức tạp, thời gian giải quyết kéo dài sẽ làm giảm hiệu quả hỗ trợ.

Vì vậy, ông kiến nghị xây dựng cơ chế hỗ trợ theo hướng “đúng đối tượng - đúng nhu cầu - dễ tiếp cận”, đồng thời duy trì đối thoại định kỳ giữa chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp, với từng kiến nghị cần có đầu mối, thời hạn xử lý và phản hồi cụ thể.

Quan điểm này cũng tương đồng với định hướng của CEF III. Theo GS.TS Mạc Quốc Anh, thước đo thành công của Diễn đàn không nằm ở số lượng phát biểu hay thông điệp, mà ở khả năng chuyển các kết luận thành công việc cụ thể.

Ban Tổ chức dự kiến lựa chọn 5-7 vấn đề ưu tiên để xây dựng “Khung hành động sau CEF III”, xác định trách nhiệm của cơ quan quản lý, hiệp hội, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo.

Trong bối cảnh Hà Nội đang hướng tới tăng trưởng hai con số, những đề xuất này đặt trọng tâm vào chất lượng thực thi chính sách và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Bởi tăng trưởng không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn, số lượng doanh nghiệp hay lực lượng lao động, mà còn ở khả năng chuyển những nguồn lực đó thành đầu tư, đơn hàng, năng suất và giá trị gia tăng.

Thanh Hoa

Nguồn Vnbusiness: https://vnbusiness.vn/ha-noi-muon-tang-truong-hai-con-so-doanh-nghiep-can-gi-de-but-toc.html