Hát chèo tàu Tổng Gối: Đánh thức di sản, kiến tạo giá trị mới
Không chỉ là lễ hội mang đậm sắc màu tâm linh, Hội hát chèo tàu Tổng Gối ở xã Ô Diên đang đứng trước cơ hội được nghiên cứu, đầu tư bài bản để trở thành biểu tượng di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của Thủ đô...
Giữa nhịp sống hiện đại của Thủ đô, ở vùng đất Tổng Gối xưa - nay là các làng: Thượng Hội, Thúy Hội, Vĩnh Kỳ, Phan Long thuộc xã Ô Diên vẫn ngân vang những câu hát chèo tàu trầm hùng, tha thiết. Trải qua hơn ba thế kỷ, Hội hát chèo tàu Tổng Gối không chỉ là một sinh hoạt tín ngưỡng dân gian mà còn là “di sản sống” phản ánh chiều sâu lịch sử, bản sắc văn hóa và khát vọng gìn giữ truyền thống của cộng đồng cư dân nơi đây.

Lăng Văn Sơn, nơi yên nghỉ của tướng Văn Dĩ Thành, cũng là nơi thực hành di sản Hội hát chèo tàu Tổng Gối từ thế kỷ XVII đến nay. Ảnh: OD
Dấu tích cổ xưa của vùng Tổng Gối
“Trên khắp nước ta, duy nhất làng chúng tôi có hội hát chèo tàu”, Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hữu Yến tự hào chia sẻ khi nhắc tới “đặc sản” văn hóa của quê hương. Ở tuổi gần 90, mắt đã mờ, chân đã chậm, nhưng ông vẫn minh mẫn, giọng hát còn vang và trí nhớ vẫn đầy ắp ký ức về một thời vàng son của hội làng.
Ông mở cuốn sổ cũ đã nhuốm màu thời gian, chậm rãi kể: “Khi tôi sinh ra, hội đã không còn tổ chức theo lệ 25 năm một lần. Mọi thông tin chỉ còn trong lời kể của các cụ cao niên và những trang ghi chép này”.
Tục truyền, khi khởi nghĩa chống quân Đông Hán, Hai Bà Trưng từng hành quân qua vùng Tổng Gối. Để tưởng nhớ công lao, dân làng mở hội tế lễ, tái hiện cảnh chèo thuyền, điều voi ra trận bằng hình thức diễn xướng “tàu - tượng”. Một giả thuyết khác lại gắn hội với cuộc khởi nghĩa “Hắc y” của tướng Văn Dĩ Thành chống giặc Minh ở thế kỷ XV. Dù bắt nguồn từ câu chuyện nào, hội hát chèo tàu vẫn toát lên tinh thần thượng võ, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và niềm tự hào dân tộc.

Lăng Văn Sơn, xã Ô Diên. Ảnh: OD
Hội hát được tổ chức lần đầu năm 1683, duy trì theo chu kỳ 25 năm. Lời ca, điệu hát phát triển rực rỡ vào thế kỷ XIX. Điểm độc đáo nhất là toàn bộ thành viên tham gia diễn xướng đều là nữ. Trên mỗi con tàu có một Chúa tàu (50-55 tuổi), 12 thiếu nữ từ 13 đến 16 tuổi đảm nhận vai Cái tàu, Con tàu. Đối xứng là đôi voi với hai quản tượng thổi tù và hát đối. Trong bối cảnh xã hội phong kiến, khi phụ nữ ít có cơ hội xuất hiện trước công chúng, việc họ làm chủ “con thuyền” trong một lễ hội lớn cho thấy sự tôn vinh đặc biệt của cộng đồng.
Lễ hội diễn ra từ rằm đến 21 tháng Giêng, kéo dài 7 ngày 7 đêm. Các làng thay nhau hát trình, hát thuyền, hát bỏ bộ; lời ca phần lớn theo thể lục bát, mộc mạc mà sâu sắc. Những bài hát ca ngợi công đức Thành hoàng Văn Dĩ Thành, tri ân tiền nhân, gửi gắm ước vọng thái bình. Không chỉ vang lên trong hội, lời chèo tàu còn thấm vào đời sống thường nhật qua câu ru của bà, của mẹ, trong buổi lao động hay khi về chùa lễ Phật.
Biến di sản thành tài sản
Sau kỳ hội năm 1922, vì nhiều biến động lịch sử, chèo tàu bị gián đoạn hàng chục năm. Trăn trở trước nguy cơ mai một, năm 1998, những người tâm huyết đã thành lập Câu lạc bộ hát chèo tàu Tổng Gối, sưu tầm, phục dựng và truyền dạy cho thế hệ trẻ. Từ đó, hội được khôi phục và tổ chức quy mô 5 năm một lần.

Hát chèo tàu. Ảnh: OD
Các nghệ nhân kể lại, may mắn là từ thập niên 1960, Viện Âm nhạc Việt Nam đã ghi âm các làn điệu do những người từng tham gia hội năm 1922 thể hiện. Băng tư liệu quý cùng ký ức của cụ Tiến Thị Lục - người từng chứng kiến hội xưa trở thành “bảo bối” giúp phục dựng nguyên bản. “Lời chèo tàu có tới 90% là thơ lục bát, dễ nhớ, dễ thuộc nên dù không mở hội, câu hát vẫn sống trong dân gian”, các nghệ nhân chia sẻ.
Theo Trưởng phòng Văn hóa - Xã hội xã Ô Diên Đỗ Văn Mười, nhiều năm qua, địa phương đã quan tâm hỗ trợ kinh phí, mở lớp truyền dạy, đưa chèo tàu vào trường học, tạo điều kiện để câu lạc bộ biểu diễn phục vụ cộng đồng. Đến nay, câu lạc bộ có hơn 70 hội viên, trong đó 4 người được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân Ưu tú.
Thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Chủ tịch UBND xã Ô Diên Đỗ Chí Hưng khẳng định: “Chúng tôi xác định bảo tồn phải đi đôi với phát huy. Xã tiếp tục tạo "đất diễn" cho chèo tàu trong các chương trình văn nghệ quần chúng, tuyên truyền để lớp trẻ hiểu và tự hào về di sản quê hương”.
Đặc biệt, Hội hát chèo tàu Tổng Gối đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1351/QĐ-BVHTTDL. Lễ công bố diễn ra ngày 1-3-2026 tại Ô Diên là sự ghi nhận xứng đáng cho nỗ lực bền bỉ của cộng đồng.
Trong bối cảnh Hà Nội đang đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, chèo tàu hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng của vùng ven đô, gắn với du lịch trải nghiệm, giáo dục truyền thống, biểu diễn phục vụ du khách. Nếu được đầu tư về không gian trình diễn, tư liệu hóa, quảng bá số hóa và xây dựng tour/tuyến hợp lý, di sản này không chỉ mang giá trị tinh thần mà còn tạo sinh kế bền vững, đóng góp vào kinh tế xanh của địa phương.

Thực hành diễn xướng Hội hát chèo tàu Tổng Gối. Ảnh: OD
Hơn ba thế kỷ tồn tại, chèo tàu đã chứng minh sức sống mãnh liệt. Từ một lễ hội mang đậm yếu tố tâm linh, di sản ấy đang đứng trước vận hội mới trở thành biểu tượng văn hóa phi vật thể tiêu biểu có chiều sâu của Thủ đô. Khi cộng đồng, chính quyền và giới nghiên cứu cùng chung tay, những câu hát năm xưa sẽ không chỉ vang lên trong hội làng, mà còn lan tỏa xa hơn, góp phần định vị bản sắc văn hóa Ô Diên trên bản đồ di sản Hà Nội.











