Hạt cườm kể chuyện trên tấm zèng Tà Ôi
Từng hạt cườm nhỏ được luồn vào sợi ngay khi dệt, cùng những đường nét mô phỏng núi rừng, lễ cưới và vòng múa cộng đồng đã tạo nên vẻ đẹp riêng của zèng Tà Ôi.
Nét riêng được tạo nên từ hạt cườm
Ở tuổi 27, Blúp Thị Lế đã có 15 năm gắn bó với khung dệt. Cô học nghề từ năm 12 tuổi, theo những chỉ dẫn của mẹ và bà ngoại. Không giáo trình, kinh nghiệm được trao truyền qua từng động tác làm mẫu, quan sát và kiên trì thực hành.
Từ những đường dệt đầu tiên, Lế học cách mắc sợi, phối màu, tạo hoa văn và luồn cườm. Qua năm tháng, những thao tác từng khiến cô lúng túng đã trở thành nhịp quen thuộc của đôi tay.
“Em học nghề từ mẹ và bà ngoại”, Lế nói. Câu trả lời ngắn gọn gợi lên hành trình nối nghề qua ba thế hệ phụ nữ trong một gia đình Tà Ôi.

Blúp Thị Lế bên khung dệt zèng, tiếp nối nghề truyền thống được mẹ và bà ngoại trao truyền.
Điều làm nên sự khác biệt của zèng Tà Ôi nằm ở cách tạo hoa văn. Người thợ đưa từng hạt cườm vào ngay trong quá trình dệt, thay vì đính thêm sau khi tấm vải hoàn thành. Đôi tay phải cùng lúc điều khiển sợi dọc, đưa sợi ngang, đếm đường vải và đặt cườm đúng vị trí. Hoa văn bằng sợi và cườm theo đó hiện ra trong từng nhịp khung dệt, gắn chặt vào kết cấu tấm zèng.
“Chúng em luồn hạt cườm ngay trong quá trình dệt. Làm như vậy, hạt sẽ được giữ chắc và không dễ rơi ra”, Lế giải thích.

Hạt cườm được luồn trực tiếp vào sợi trong quá trình dệt, tạo nên nét riêng của zèng Tà Ôi.
Cách làm này đòi hỏi người thợ phải có trí nhớ tốt, đôi mắt tinh và nhịp tay đều. Chỉ một lần đếm sai hoặc đặt lệch hạt, cả dải hoa văn có thể mất cân đối. Bên cạnh việc chuẩn bị sợi và hạt cườm, người dệt phải nắm vững kỹ thuật và có khả năng sáng tạo hoa văn. Năm 2016, nghề dệt zèng của đồng bào Tà Ôi được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nét độc đáo của zèng vì thế không chỉ nằm ở những hạt cườm lấp lánh, mà ở cách chúng được đưa vào từng đường sợi, trở thành một phần của tấm vải.
Mỗi hoa văn lưu giữ một câu chuyện
Trên tấm zèng do mình thực hiện, Blúp Thị Lế lần lượt chỉ vào từng dải hoa văn: nhóm người nắm tay múa hát, những đường nét gợi núi đồi và hình tượng hạt mã não gắn với phong tục cưới hỏi.
Qua lời kể của Lế, các mô-típ không còn là những hình trang trí đơn thuần. Núi rừng, sinh hoạt cộng đồng và nghi lễ truyền thống được chắt lọc thành đường nét, rồi lưu giữ trên mặt vải.

Những tấm zèng Tà Ôi nổi bật với màu sắc và hệ thống hoa văn phản ánh đời sống, văn hóa của đồng bào.
Hình ảnh mọi người nắm tay nhau gợi sự gắn kết cộng đồng. Những đường nét trùng điệp gợi núi đồi, nơi đồng bào sinh sống qua nhiều thế hệ. Hạt mã não lại dẫn về phong tục hôn nhân truyền thống.
Blup Lế cho biết trong lễ cưới, nhà trai mang hạt mã não cùng các lễ vật đến nhà gái để xin cưới. Khi xuất hiện trên zèng, hình tượng này mang theo ký ức về nghi lễ và đời sống gia đình.
Trong văn hóa của người Pa Cô – một nhóm địa phương thuộc dân tộc Tà Ôi – mã não từng được xem là vật quý, gắn với độ tuổi, vị thế và những dấu mốc quan trọng của mỗi người. Đây cũng là lễ vật nhà trai dành tặng nhà gái trong đám cưới.
Mỗi hoa văn vì thế giống một mảnh ký ức được giữ lại trên tấm zèng. Người thợ không chỉ cần đôi tay khéo léo mà còn phải hiểu điều mình đang dệt. Học cách tạo và lý giải hoa văn cũng là tiếp nhận vốn văn hóa do thế hệ trước trao lại.
Không phải ai biết dệt cũng thành thạo mọi mô-típ. Việc sắp xếp cườm đòi hỏi kinh nghiệm, sự chính xác và trí nhớ. Trên nền hoa văn truyền thống, mỗi người thợ vẫn có thể sáng tạo theo cách quan sát thiên nhiên, cuộc sống của riêng mình. Vì vậy, mỗi tấm zèng vừa mang dấu hiệu văn hóa chung, vừa lưu lại dấu ấn cá nhân.
Nối sợi truyền thống với nhịp sống hôm nay
Một tấm zèng dài hơn 3m, rộng khoảng 75cm do Blúp Thị Lế thực hiện cần hơn một tháng mới hoàn thành. Thời gian ấy được rút ngắn nhờ sử dụng sợi sản xuất công nghiệp.
Trước đây, đồng bào phải tự trồng bông, làm sợi rồi tìm nguyên liệu tự nhiên để nhuộm màu. Nếu giữ đủ các công đoạn như thời ông bà, một tấm zèng có thể mất hơn một năm mới hoàn thiện.
“Bây giờ, để nhanh hơn, chúng em dùng sợi len công nghiệp. Nếu làm như thời xưa thì phải mất hơn một năm mới xong”, Lế chia sẻ.
Nguyên liệu mới giúp người thợ giảm bớt thời gian chuẩn bị, đồng thời đưa sản phẩm đến gần hơn với nhu cầu thị trường. Tuy nhiên, kỹ thuật dệt, luồn cườm và tạo hoa văn vẫn phải thực hiện bằng tay.
Máy móc có thể hỗ trợ nguyên liệu, nhưng độ chắc của từng hạt cườm, sự cân đối của hoa văn và linh hồn tấm vải vẫn nằm trong đôi tay người dệt. Một tấm zèng vì thế không chỉ được tính bằng chiều dài hay số ngày hoàn thành, mà còn bằng vốn hoa văn và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều thế hệ.
Nghề dệt đang tìm cách thích nghi để tồn tại, nhưng vẫn phải giữ được kỹ thuật và ngôn ngữ hoa văn làm nên bản sắc zèng Tà Ôi.
Với Blúp Thị Lế, trước mắt là đưa sản phẩm đến gần hơn với công chúng. “Em mong các doanh nghiệp hỗ trợ giới thiệu, quảng bá sản phẩm dệt của chúng em rộng rãi hơn, không chỉ trong nước mà còn đến với bạn bè quốc tế”, Lế bày tỏ.
Để mong muốn ấy trở thành hiện thực, zèng cần có một đầu ra bền vững, nơi công sức của người dệt được trả công xứng đáng và bản sắc của sản phẩm được gìn giữ trong quá trình đổi mới mẫu mã. Khi nghề mang lại sinh kế, việc bảo tồn sẽ không chỉ dừng ở các buổi truyền dạy hay trình diễn, mà tiếp tục hiện diện trong đời sống của chính cộng đồng.
Từ bà ngoại, người mẹ đến Blúp Thị Lế, nghề dệt zèng đã được nối qua ba thế hệ trong một gia đình. Mạch nghề ấy chỉ có thể đi xa khi người trẻ không những biết dệt, hiểu từng hoa văn, mà còn có thể sống được bằng nghề.
Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/hat-cuom-ke-chuyen-tren-tam-zeng-ta-oi-post359401.html
