Hoàn thiện cơ chế, thu hút đầu tư tư nhân xử lý chất thải
Huy động nguồn lực xã hội, phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy hợp tác công tư cần được xem là những hướng đi quan trọng để hình thành hệ thống quản lý chất thải hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Đây là nội dung được nhiều chuyên gia trao đổi tại Hội thảo “Mô hình hợp tác công tư, thu hút đầu tư tư nhân trong triển khai các dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt: Kinh nghiệm triển khai và đề xuất sửa đổi” do Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) phối hợp với Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam tổ chức chiều 24/8, tại Hà Nội.

TS Nguyễn Song Tùng, Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững, phát biểu khai mạc hội thảo.
Phát biểu khai mạc hội thảo, Tiến sĩ Nguyễn Song Tùng, Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững cho biết, cùng với quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và nâng cao mức sống của người dân, lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh ngày càng lớn, trong khi yêu cầu đối với công nghệ, chất lượng dịch vụ và tiêu chuẩn môi trường ngày càng cao. Điều đó đặt ra nhu cầu đầu tư rất lớn cho hệ thống quản lý chất thải. Ngoài ra, trong điều kiện nguồn lực ngân sách nhà nước có hạn, huy động nguồn lực xã hội, phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, thúc đẩy hợp tác công tư cần được xem là một trong những hướng đi quan trọng để hình thành hệ thống quản lý chất thải hiện đại, hiệu quả và bền vững. Hợp tác công tư cần được thiết kế như một cơ chế hợp tác dài hạn; trong đó Nhà nước, doanh nghiệp và các bên liên quan cùng tham gia cung cấp một dịch vụ công thiết yếu; trách nhiệm, lợi ích và rủi ro được phân bổ hợp lý; đồng thời bảo đảm hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và lợi ích xã hội.
Trong bối cảnh các chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường tiếp tục được nghiên cứu, rà soát và hoàn thiện, Tiến sĩ Nguyễn Song Tùng cho rằng, đây là thời điểm rất phù hợp để nhìn lại thực tiễn triển khai các dự án đầu tư tư nhân, hợp tác công tư trong lĩnh vực chất thải rắn sinh hoạt, từ đó cung cấp thêm những luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình hoàn thiện chính sách.

Toàn cảnh hội thảo.
Bàn về thực trạng triển khai đầu tư dự án đối tác công tư (PPP) trong lĩnh vực xử lý chất thải rắn tại Việt Nam, Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Chánh Văn phòng PPP, Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Tài chính) cho biết, theo kết quả rà soát, thống kê của Bộ Tài chính, đa số dự án đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải được các địa phương triển khai theo hình thức đầu tư kinh doanh theo pháp luật về đầu tư; chưa nhiều dự án triển khai theo phương thức PPP. Trong đó, có 5 nhóm vấn đề được nhiều địa phương phản ánh như: Quy mô và hiệu quả tài chính của dự án; định mức, đơn giá cho công nghệ xử lý mới; thủ tục lựa chọn nhà đầu tư; hợp đồng mẫu và cơ chế chia sẻ rủi ro khi khối lượng rác đầu vào biến động; sự đồng bộ giữa quy hoạch hạ tầng xử lý rác thải và quy hoạch sử dụng đất… Do đó, Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Hà kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý, phân định phương thức đầu tư và bổ sung cơ sở pháp lý cho cam kết khối lượng; đồng thời cần phân định rõ phương thức đầu tư, bổ sung cơ sở pháp lý cho cam kết khối lượng và ban hành hướng dẫn chuyên ngành.
Kiến nghị sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường 2020 có liên quan đến các dự án đầu tư tư nhân, hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế môi trường đề xuất 5 nội dung ưu tiên: Thiết lập cơ chế giá dịch vụ xử lý chất thải đủ hấp dẫn nhà đầu tư; quy định cam kết khối lượng rác và thanh toán dài hạn cho dự án đối tác công tư (PPP); thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro Nhà nước - nhà đầu tư; công nhận và tạo lập thị trường cho sản phẩm tái chế, compost, vật liệu từ chất thải và năng lượng thu hồi; áp dụng quy trình thí điểm về đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) và quản lý số toàn bộ dòng chất thải, làm cơ sở thanh toán và giám sát hợp đồng.
Tại hội thảo, các đại biểu tập trung trao đổi, làm rõ bốn nhóm vấn đề lớn: Thực trạng đầu tư tư nhân và triển khai các dự án theo đầu tư tư nhân, hợp tác công tư trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt hiện nay; những điểm nghẽn thực sự đang cản trở dòng vốn tư nhân; cơ chế phân bổ trách nhiệm, lợi ích và rủi ro giữa Nhà nước và nhà đầu tư…Từ đó, các đại biểu chia sẻ việc áp dụng kinh nghiệm thực tiễn trong nước và quốc tế để kiến nghị, bổ sung vào Luật Bảo vệ môi trường; đồng thời đề xuất tạo lập được một môi trường đầu tư có thể dự báo, một cơ chế hợp đồng đủ tin cậy và một mô hình tài chính đủ khả thi.
