Hoàng Văn Lộc - Người đầu bếp đầu tiên của Bác tại căn cứ địa Cao Bằng
Năm 2026, khi cả nước hướng tới kỷ niệm 85 năm Ngày Bác Hồ về nước (28/1/1941 - 28/1/2026), chúng ta lại bồi hồi ôn lại những câu chuyện về những người cận vệ về nước cùng Bác. Câu chuyện về đồng chí Hoàng Văn Lộc hiện lên đầy gần gũi với vai trò đặc biệt, người đầu bếp đầu tiên phục vụ Bác tại căn cứ địa Cao Bằng. Ông là người giữ lửa cho những bữa cơm đạm bạc trong hang sâu, minh chứng cho sự tận tụy và lòng trung thành đối với Đảng, với Bác Hồ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Đồng chí Hoàng Văn Lộc tên thật là Nguyễn Văn Ty (sinh năm 1900), quê ở xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình (nay là xã Quảng Ninh, tỉnh Quảng Trị). Ông vốn là một Việt kiều ở Thái Lan và tham gia tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên tại Đông Bắc Thái Lan lúc bấy giờ. Năm 1928, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Thái Lan và gặp Hoàng Văn Lộc, nhận thấy đồng chí là người lanh lợi, tháo vát, giỏi võ và biết cả việc bốc thuốc chữa bệnh nên đã chọn đi cùng khắp 16 tỉnh Đông Bắc Thái Lan nhằm tuyên truyền cách mạng cho kiều bào yêu nước. Đến năm 1929, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc rời Thái Lan sang Trung Quốc hoạt động cách mạng, đồng chí Hoàng Văn Lộc đã tạm chia tay người vợ trẻ ở Thái Lan để đi theo Bác tiếp tục con đường hoạt động cách mạng.
Trong hồi ký của đồng chí Vũ Kỳ - Thư ký riêng của Bác Hồ, xác nhận một chi tiết rất đắt giá: Ông Lộc, bà Cúc nên duyên chồng vợ nhờ sự tác hợp của Bác Hồ. Đám cưới đôi vợ chồng trẻ diễn ra trên đất Thái Lan đơn sơ và Bác Hồ làm người chủ hôn. Vì nặng việc nước, ông đã gác lại chuyện riêng, một lòng theo Đảng, theo Bác Hồ. Còn bà Nguyễn Thị Cúc, vợ ông, cả cuộc đời là một chuỗi hành trình chờ chồng, một lòng vì cách mạng. Vợ chồng bà Cúc không có con nên đã xin vợ chồng ông Nguyễn Văn Bun là bạn của ông Lộc đứa con gái về nuôi. Khoảng những năm 1960, bà Cúc trở về Việt Nam sinh sống cùng vợ chồng con nuôi tại xã Quảng Ninh, tỉnh Quảng Trị, nơi quê hương ông Lộc.
Sau khi Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc rời Thái Lan sang Trung Quốc để chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản, đồng chí Lộc cũng chuyển sang hoạt động tại đây. Trải qua nhiều công việc, vừa bảo vệ và giúp việc cho lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, vừa nhận nhiệm vụ gây dựng cơ sở cách mạng bí mật ở các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc), móc nối với các chiến sĩ cách mạng Việt Nam hoạt động ở đây và ở trong nước sang.
Đến cuối tháng 5/1940, đồng chí Hoàng Văn Lộc và đồng chí Đặng Văn Cáp tới Côn Minh, Vân Nam (Trung Quốc) gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Sau đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc phái Bùi Thanh Bình và Hoàng Văn Lộc đi Hà Khẩu, Lào Cai thăm dò đường sá để về nước theo hướng Côn Minh (Trung Quốc) - Lào Cai (Việt Nam). Cuối tháng 6/1940, đường giao thông Côn Minh - Lào Cai bị tắc, kế hoạch về nước theo hướng đó phải hủy bỏ. Đồng chí Lộc được gọi trở về Côn Minh. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc quyết định chọn đường về nước theo hướng qua Cao Bằng.

Lễ cắt băng khánh thành Bia tưởng niệm đồng chí Hoàng Văn Lộc tại Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa, Thái Nguyên.
Ngày 28/1/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí vượt qua cột mốc biên giới Việt - Trung số 108 về Cao Bằng. Cùng đến Pác Bó với Người còn có 5 đồng chí: Lê Quảng Ba, Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp và Hoàng Văn Lộc. Đồng chí Hoàng Văn Lộc chính là người được giao trọng trách gánh hành lý cho Bác và các đồng chí trong hành trình về nước. Khi đoàn đi qua những đoạn dốc dựng đứng, trơn trượt do sương muối ở vùng núi Cao Bằng, đồng chí Lộc không may bị trượt chân, thay vì tìm cách chống đỡ để bản thân không bị ngã, phản xạ đầu tiên của ông là xoay người, dùng tấm lưng và 2 tay đỡ lấy chiếc vali để tài liệu trong vali không bị va đập vào đá hộc. Thấy đồng chí Lộc lo lắng cho tài liệu hơn bản thân, Bác Hồ đã ân cần hỏi thăm sức khỏe và dặn dò: Con người là vốn quý nhất nhưng tài liệu và máy móc là vũ khí để đánh giặc, phải giữ gìn cẩn thận như chính con mắt của mình. Nhờ sự bảo vệ cẩn thận của đồng chí Lộc, chiếc vali đựng tài liệu đã được an toàn. Tài liệu và hành trang trong chiếc vali này, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã mang ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam bước sang một trang sử mới.
Những ngày hoạt động ở Pác Bó, cuộc sống vô cùng gian khổ và thiếu thốn, đồng chí Lộc đảm nhận công việc hậu cần nấu ăn, chăm sóc Bác và các đồng chí. Thực đơn thường chỉ có cháo bẹ với rau rừng. Để Bác có thêm sức khỏe, ông thường xuyên ra suối Lê-nin xúc cá, tép, những con cá suối nhỏ bé sau khi được ông chế biến đã trở thành nguồn đạm quý giá, bổ sung dinh dưỡng cho Bác và các đồng chí. Ngoài ra, đồng chí Lộc còn phải xóa dấu vết sau mỗi lần nấu ăn để không bị lộ. Để bảo vệ bí mật cho Bác, ông phải dùng củi khô, nhóm bếp cực khéo trong hốc đá hoặc dùng các tấm chắn để khói không bốc cao làm lộ vị trí cho mật thám Pháp đang lùng sục. Khu vực đặt bếp luôn được che đậy bằng lá cây hoặc đá vụn để trông như một phần tự nhiên. Nhờ sự cẩn trọng và kỹ thuật nấu ăn “không khói” này, đồng chí Hoàng Văn Lộc đã giúp Bác Hồ và các đồng chí duy trì được sự bí mật suốt thời gian dài tại Pác Bó. Công việc tưởng chừng giản đơn nhưng ông luôn hoàn thành xuất sắc, là tấm gương sáng về sự tận tụy, hy sinh thầm lặng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong thời gian hoạt động tại Cao Bằng, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một người đầu bếp đầu tiên của Bác Hồ.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng và các cơ quan Trung ương chuyển về Hà Nội, các đồng chí hoạt động cách mạng từ trước khởi nghĩa nhiều người được giao đảm đương những cương vị xứng đáng, riêng đồng chí Lộc cùng với một số đồng chí khác được Bác Hồ cử ở lại Việt Bắc tiếp tục xây dựng “hậu phương lưu trú”. Bởi với tầm nhìn chiến lược, trên cơ sở phân tích tương quan lực lượng địch và ta, đặc biệt nhìn rõ dã tâm xâm lược của thực dân Pháp đối với dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiên đoán việc Chính phủ sớm muộn sẽ phải trở lại Tân Trào (Tuyên Quang) để tiếp tục kháng chiến. Vì vậy, việc không ngừng củng cố và xây dựng hậu phương là một vấn đề cần thiết. Người đã tin tưởng giao nhiệm vụ khó khăn này cho đồng chí Hoàng Văn Lộc.
Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Bác Hồ cùng Trung ương Đảng đi qua các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ. Tháng 5/1947, Người trở lại Tân Trào (Tuyên Quang), bắt đầu cuộc kháng chiến trường kỳ. Đồng chí Lộc đang làm việc tại công binh xưởng, được gọi trở về cơ quan Phủ Chủ tịch để làm nhiệm vụ cấp dưỡng, nấu ăn cho Bác. Để biểu thị quyết tâm trong cuộc kháng chiến, cũng là để nhắc nhở các cán bộ, chiến sĩ đồng lòng quyết tâm, Bác Hồ đã đặt tên cho các chiến sĩ, cán bộ phục vụ xung quanh Người theo khẩu hiệu: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Nhất, Định, Thắng, Lợi và Đồng, Tâm, Kiên, Quyết, Trung, Dũng, Cần, Kiệm, Liêm… Đồng chí Lộc được mang tên là Đồng. Không phụ lòng tin cậy của Bác, đồng chí Lộc một lần nữa nỗ lực hết mình, tận tụy hoàn thành nhiệm vụ được Đảng phân công.
Bác Hồ rất coi trọng và đánh giá cao sự tận tụy của đồng chí Lộc, coi ông là tấm gương sáng về tinh thần cống hiến như lời Bác nói: “Chú Đồng làm nhiệm vụ nấu ăn cho Bác và cho các chú, không phải vì chú ấy không có năng lực, ngược lại chú Đồng rất có khả năng, có thể đảm đương nhiều công việc quan trọng. Nhưng do tổ chức tin tưởng phân công cho chú ấy nấu ăn cho Bác và các chú, nên chú vui vẻ và làm việc gì cũng đến nơi đến chốn”.
Ngày 3/5/1948, do bị một cơn sốt rét ác tính, đồng chí Lộc qua đời, đồng chí được chôn cất trong khu rừng Khuôn Tát, xã Phú Đình, Định Hóa, Thái Nguyên (nay là xã Phú Đình, tỉnh Thái Nguyên). Năm 1954, hài cốt liệt sĩ được quy tập về Nghĩa trang liệt sĩ Định Hóa, Thái Nguyên. Liệt sĩ Hoàng Văn Lộc được truy tặng Bằng Tổ quốc ghi công theo Quyết định số 398 ngày 25/10/1985, do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng ký.
Bà Nguyễn Thị Cúc, vợ đồng chí Hoàng Văn Lộc, sau khi trở về Việt Nam là những chuỗi ngày đằng đẵng tìm chồng. Đến một ngày cuối tháng 5/1979, bà đọc tờ Báo Nhân dân, số ra ngày 19/5/1979, chào mừng sinh nhật Bác Hồ. Bà thấy bài viết của đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký riêng của Bác Hồ có đoạn nói về bà và ông Lộc thời còn ở Thái Lan, thế là bà cùng đứa cháu nuôi khăn gói ra Hà Nội tìm đồng chí Vũ Kỳ để hỏi về chồng. Đồng chí Vũ Kỳ vô cùng cảm động khi gặp 2 bà cháu và kể lại những cống hiến lớn lao của đồng chí Hoàng Văn Lộc. 50 năm mới có được tin chồng cũng là lúc biết được chính xác là chồng đã mất. Bà Cúc nức nở khóc xin được chít khăn trắng từ lúc ấy để để tang cho chồng.
Sau này bà Cúc được Chính phủ và Nhà nước đặt trong diện quan tâm đặc biệt. 2 bà cháu được chính quyền địa phương làm nhà lợp ngói để ở. Sau đó theo chỉ đạo của cấp trên, bà Cúc được đưa vào chăm sóc, nuôi dưỡng tại Khu dưỡng lão thành phố Huế. Bà còn được cấp sổ hưu và chế độ tem phiếu nhưng bà không hề sử dụng. Bà nói: Tôi được Nhà nước nuôi như ri là sướng rồi. Do tuổi cao, sức yếu, bà Cúc qua đời ngày 6/5/1990 tại Khu dưỡng lão Huế. Anh Lê Văn Lợi, cháu nuôi bà Cúc đã đưa hài cốt bà về đặt trong phần lăng, có mộ gió của ông Lộc để tôn thờ tại nghĩa trang gia đình ở xã Quảng Ninh, tỉnh Quảng Trị.
Để tưởng nhớ và tri ân công lao to lớn của đồng chí Hoàng Văn Lộc, năm 2013, Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa, Thái Nguyên phối hợp với Bảo tàng Hồ Chí Minh đã xây dựng Bia tưởng niệm liệt sĩ Hoàng Văn Lộc tại nơi đồng chí hy sinh. Việc gìn giữ và tôn tạo Bia tưởng niệm đồng chí Hoàng Văn Lộc không chỉ tôn vinh một người con ưu tú của cách mạng mà còn thể hiện lòng biết ơn, sự tri ân của Đảng và Nhà nước ta đối với công lao to lớn của đồng chí. Cuộc đời đồng chí Hoàng Văn Lộc là minh chứng cho sự tin tưởng tuyệt đối vào con đường cứu nước của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Dù không giữ những chức vụ vang dội trong lịch sử sau này như các tướng lĩnh khác, nhưng vai trò “người mở đường” và bảo vệ lãnh tụ của ông là không thể thay thế. Đồng chí mãi mãi đi vào lịch sử cách mạng Việt Nam như một trong năm người học trò xuất sắc, người cận vệ trung kiên đã tháp tùng Bác Hồ trở về Tổ quốc.












