Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam góp ý dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi)
Hội Kinh tế môi trường Việt Nam có một số ý kiến thảo luận về Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi.
Hội Kinh tế môi trường Việt Nam xin có một số ý kiến thảo luận về Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường, cụ thể như sau:
1) Trong lần góp ý tại Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Hội Kinh tế môi trường Việt Nam đã có 2 góp ý cụ thể: (1) cần thể hiện rõ trách nhiệm của các cơ quan/tổ chức tham gia vào việc lắp đặt, vận hành và quản lý các trạm/thiết bị quan trắc môi trường chứ không chỉ nêu nội dung quan trắc môi trường, (2) cần có cơ chế chính sách kiểm soát việc các tổ chức nước ngoài trực tiếp tham gia vào việc mua tín chỉ cacbon của Việt Nam.

Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam góp ý dự thảo Luật Bảo vệ môi trường.
Trong văn bản dự thảo Luật Bảo vệ môi trường lần này, cơ quan biên soạn đã có sự chỉnh sửa và bổ sung các nội dung góp ý trên, cụ thể:
- Về nội dung (1), trong Điều 110: Điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ quan trắc môi trường. Xem xét nội dung Điều 110, chúng tôi thấy vẫn còn khe hở đối với việc thực hiện quan trắc môi trường bằng các trạm quan trắc vì: các cơ sở cần lắp đặt các trạm quan trắc đồng thời là người thực hiện quan trắc môi trường, chứ không phải là người hoạt động dịch vụ quan trắc hay sử dụng dịch vụ quan trắc môi trường. Do đó, cần đưa thêm vào Điều 110 quy định đối với hoạt động quan trắc môi trường tại các trạm quan trắc về trách nhiệm của tổ chức cung cấp (bán) thiết bị quan trắc và cơ quan sử dụng thiết bị quan trắc; tránh việc thông đồng chỉnh sửa các phần mềm vận hành trạm quan trắc dẫn đến sai lệch số liệu quan trắc như đã được cơ quan công an phát hiện trong thời gian gần đây. Tại buổi hợp báo thông báo tình hình, kết quả các mặt công tác công an Quý I/2026, đại diện Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra (C01) – Bộ Công an đã thông tin cụ thể về các vụ án liên quan đến số liệu quan trắc môi trường trong thời gian qua; trong đó: 46/143 Công ty, tương đương với 111/235 trạm quan trắc có dấu hiệu can thiệp, chỉnh sửa, chiếm tỉ lệ 47,2%. Theo chúng tôi, cần đưa vào Điều 110 quy định trách nhiệm của đơn vị lắp đặt và sử dụng thiết bị trạm quan trắc môi trường ví dụ như sau: đơn vị cung cấp / lắp đặt thiết bị trạm có trách nhiệm đảm bảo an toàn tính chính xác và không can thiệp vào phần mềm của hệ thống thiết bị; đơn vị sử dụng không được can thiệp vào phần mềm của hệ thống thiết bị sau khi lắp đặt.
- Về nội dung (2), dự thảo lần này đã bổ sung Điều 139a. ‘Trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon’. Theo đó, Điều 139a bổ sung đã ghi rõ nguyên tắc trao đổi quốc tế; đối tượng tham gia trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải KNK và tín chỉ cacbon; kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon chuyển giao quốc tế có phải được hình thành từ chương trình, dự án thuộc danh mục biện pháp, hoạt động giảm phát thải khí nhà kính chuyển giao quốc tế, v.v; Cơ quan, tổ chức tại Việt Nam được mua, chuyển giao kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon .. điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc thỏa thuận quốc tế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam ký kết; Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
2) Các góp ý về câu chữ trong văn bản
Có những nội dung theo chúng tôi cần chính xác hóa hay cụ thể hóa các khái niệm và quy trình:
- Định nghĩa Ô nhiễm môi trường: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên”. Trong định nghĩa này nói đến sinh vật là chưa rõ ràng vì trong tự nhiên sinh vật không chỉ là động thực vật và còn cả vi sinh vật (số lượng rất lớn) và bất kỳ hoạt động nào đều có thể gây ra tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với các nhóm tồn tại trong tự nhiên, nếu nói là hệ sinh thái tự nhiên thì mới đúng; hơn nữa định nghĩa này quá dài. Theo chúng tôi nên sửa là: “Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi thành phần và tính chất môi trường vi phạm tiêu chuẩn / quy chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và hệ sinh thái”.
- Định nghĩa “Chất ô nhiễm là chất hóa học hoặc tác nhân vật lý, sinh học mà khi xuất hiện trong môi trường vượt mức cho phép sẽ gây ra ô nhiễm môi trường”. Chất không thể là tác nhân vật lý hay cơ thể sinh vật; một số chất không chỉ vượt mức mà thấp hơn mức cho phép (ví dụ như I (i ốt) thấp hơn mức cho phép gây bệnh bướu cổ). Do đó, đúng ra phải “Tác nhân ô nhiễm là chất hóa học, tác nhân vật lý hay sinh học mà khi xuất hiện trong môi trường vượt hoặc thấp hơn mức cho phép sẽ gây ra ô nhiễm môi trường”.
- Khái niệm về nhãn sinh thái và quy trình đánh giá nhãn sinh thái (Điều 145) chưa rõ ràng. Theo điều 145, “Việc quan trắc, phân tích, đánh giá sự phù hợp của sản phẩm, dịch vụ với tiêu chí Nhãn sinh thái Việt Nam được thực hiện bởi tổ chức quan trắc môi trường theo quy định của Luật này hoặc tổ chức đánh giá sự phù hợp theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, pháp luật về đo lường và pháp luật khác có liên quan. Kết quả quan trắc, phân tích, đánh giá sự phù hợp quy định tại khoản này là căn cứ để đánh giá sự phù hợp của sản phẩm, dịch vụ với tiêu chí Nhãn sinh thái Việt Nam.”. Ở đây, cơ sở đánh giá là chưa rõ ràng và tại sao lại quy định công việc này cho tổ chức quan trắc môi trường. Theo chúng tôi nên viết lại như sau: “Nhãn sinh thái Việt Nam là nhãn được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam chứng nhận cho sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường được lựa chọn theo quy trình đánh giá vòng đời của sản phẩm. Các sản phẩm, dịch vụ được chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ theo quy định của Nhà nước”.
3) Đề xuấtnghiên cứu đưa ra các thông số định lượng cho các tiêu chuẩn hệ thống môi trườngvào Luật BVMT.
Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị: Định hướng xây dựng mô hình tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển các khu công nghiệp sinh thái, khu kinh tế sinh thái.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Định hướng phát triển các khu công nghiệp theo hướng hiện đại, xanh, sinh thái.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: Đưa kinh tế tuần hoàn trở thành định hướng quản lý môi trường; là cơ sở pháp lý cho phát triển KCN sinh thái.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 Đưa kinh tế tuần hoàn trở thành định hướng quản lý môi trường; là cơ sở pháp lý cho phát triển KCN sinh thái.
Nghị định số 35/2022/NĐ-CP ngày 28/5/2022: Văn bản pháp lý quan trọng nhất quy định về quản lý KCN và khu kinh tế; Chương V (Điều 37–45) quy định tiêu chí xác định KCN sinh thái, doanh nghiệp sinh thái, thủ tục chứng nhận, giám sát và chứng nhận lại.
Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021–2030 (Quyết định 1658/QĐ-TTg năm 2021): Đặt mục tiêu chuyển đổi các khu công nghiệp hiện hữu sang mô hình sinh thái.
Như vậy: các văn bản của Đảng và Nhà nước đã đặt ra định hướng, nhiệm vụ phát triển các mô hình khu công nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh; tuy nhiên thực tế cho đến nay chúng ta chưa có một khu công nghiệp sinh thái nào được chứng nhận, cũng như mô hình kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh mới là khuyến khích đối với các doanh nghiệp, còn mô hình kinh tế tuần hoàn được bao nhiêu % hay mô hình kinh tế xanh đến mức độ nào thì chưa có tiêu chuẩn để xác định. Trong nền kinh tế thị trường, các danh hiệu đó cần phải được định lượng, gắn với các hỗ trợ hay ưu tiên trong sản xuất kinh doanh cần được định lượng hóa. Nói cách khác, cần có tiêu chuẩn hệ thống cụ thể cho các nội hàm khu công nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh.











