Hội Kỳ - 'viên ngọc cổ ngủ quên' bên dòng Ô Lâu
Dòng Ô Lâu bao đời nay vẫn lặng lẽ chảy giữa hai miền quê, nối rồi lại chia đôi hai ngôi làng cổ Phước Tích và Hội Kỳ. Cùng chung một dòng sông, nhưng Phước Tích đã trở thành điểm đến văn hóa, du lịch được nhiều người biết đến còn Hội Kỳ vẫn đang chờ đợi để những giá trị văn hóa được nhận diện, bảo tồn và trao truyền cho mai sau.

Cổng làng Hội Kỳ mang dấu ấn thời gian. Ảnh: Minh Ngọc
Vui buồn ở hai bờ Ô Lâu
Dòng sông Ô Lâu êm đềm chảy bao năm, chia hai bên bờ là ranh giới địa phận của hai địa phương Huế và Quảng Trị, cũng chia ra bên này, bên kia hai làng cổ Phước Tích và Hội Kỳ. Làng cổ Phước Tích (xã Phong Dinh, thành phố Huế) lâu nay đã nổi danh trên bản đồ du lịch và văn hóa. Phía bên này làng Hội Kỳ, xã Nam Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị cũng là một làng cổ hơn 500 năm được bao bọc bởi sông Ô Lâu. Hiện Hội Kỳ còn lưu giữ được hơn 20 ngôi nhà rường cổ có giá trị cao về lịch sử, văn hóa và kiến trúc có tuổi trên 150 năm, có những căn nhà có tuổi thọ hơn 200 năm như nhà của các ông Dương Văn Mạnh, Dương Quang Dân, Dương Văn Tuệ, Nguyễn Tiến Dũng. Mỗi căn nhà rường cổ Hội Kỳ đều có hồn phách độc đáo, được đặt tên riêng dựa theo kiến trúc của từng căn nhà và lối sống của chủ nhân những căn nhà đó.
Nhà cổ ở Hội Kỳ thường được xây dựng ba gian hai chái và nhà một gian hai chái. Trong đó, gian giữa để thờ tổ tiên và để bàn tiếp khách, tây phòng để đàn ông ở và đông phòng cho phụ nữ ở. Ngoài lối kiến trúc đặc trưng, còn có những vật dụng, hiện vật cổ như sập gụ, tràng kỷ, tủ chè, cùng hoành phi, triện gỗ được bố trí, trưng bày hài hòa, tôn trí lẫn nhau. Những căn nhà rường với nền nhà được tôn cao để tránh lũ, mái lợp ngói liệt dày dặn để cách nhiệt, hệ khung gỗ mít sử dụng liên kết mộng có thể tháo rời. Hệ thống cửa trong mỗi nhà có 18 lá được làm theo hình thức “thượng song hạ bản”, giúp lấy ánh sáng và thông thoáng khi đóng cửa. Những họa tiết chạm khắc tinh xảo trên vì kèo, xà gồ không chỉ mang giá trị thẩm mỹ, mà còn là những bài học về văn hóa tín ngưỡng, lòng hiếu kính của con cháu đối với tổ tiên.
Ngôi nhà rường cổ của ông Nguyễn Tiến Dũng với giàn cau, hàng trầu xanh mướt, cây mai vàng trước ngõ và hàng chè tàu được cắt tỉa cẩn thận. Gia đình ông có hai căn nhà rường cổ, trong đó, căn nhà chính giữa một gian hai chái được giữ gìn còn tương đối nguyên vẹn. Ông Dũng chia sẻ, để làm được những căn nhà độc đáo này, phải tích trữ nhiều năm những loại gỗ quý hiếm đồng nhất về kích cỡ, màu sắc, khối hộp. Người thợ được chọn để thi công làm nhà cũng phải là người có tay nghề cao. Mỗi chi tiết dù là nhỏ nhất của căn nhà đều được thiết kế một cách tài hoa, tỉ mỉ. Chính vì vậy, mỗi căn nhà cổ đều là những tác phẩm nghệ thuật đắt giá, có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa và kiến trúc nghệ thuật của những người thi công lẫn chủ nhà.
Điểm khác biệt lớn nhất tạo nên giá trị kiến trúc cảnh quan nơi đây chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hệ thống giao thông hình răng lược và các khuôn viên vườn nhà rường đậm chất sinh thái, minh chứng cho tư duy quy hoạch thuận thiên của người Việt xưa. Hệ thống đình làng, miếu mạo, lăng tẩm và các nhà thờ họ tại đây tạo thành không gian văn hóa tâm linh dày dặn. Đường làng không chỉ là lối đi, mà còn là hành lang xanh với những hàng tre, hàng cây chè tàu được cắt tỉa cẩn thận, tạo nên sự ngăn cách mà không chia cắt, phản ánh tâm hồn cởi mở mà vẫn giữ kín nếp nhà. Hàng trăm năm qua, những căn nhà rường cổ được xem là báu vật có một không hai của người dân Hội Kỳ.

Trong làng có nhiều công trình, nhà cổ nặng trầm tích văn hóa. Ảnh: Minh Ngọc
Mừng lo danh phận
Những trầm tích văn hóa sâu dày đã làm nên hồn cốt cho ngôi làng, minh chứng rằng Hội Kỳ từ thuở xưa đã là vùng đất văn vật, nhưng cuộc sống hiện đại cũng đang tác động và làm biến đổi những giá trị vốn tồn tại và in dấu lâu đời trong chính mạch nguồn làng. Mỗi khi nói về những ngôi nhà cổ của mình hay của người trong làng, những gia chủ như ông Dũng, ông Mạnh, ông Dân hay nhiều người khác cứ đặc quánh một nỗi lo trước tác động của thời gian khiến những ngôi nhà rường đang dần bị hư hỏng, không có tiền để trùng tu. Bên cạnh đó, Ông Dương Văn Mạnh, người trong làng gọi ông là “nhà Hội Kỳ học” nhìn mông lung lên bức hoành phi khắc ba chữ “Tích Khánh Đường” (tạm dịch: Nơi hội tụ niềm vui) được treo trên rầm thượng gian thờ với nỗi buồn sâu thẳm, bởi với ông, giá trị của ngôi nhà không chỉ nằm ở kiến trúc hay vật chất, mà còn gắn với dòng họ, ký ức và nơi chốn của một gia đình.
Ông Ngô Hồng Vỹ, Trưởng thôn Hội Kỳ cho biết, phần lớn các ngôi nhà cổ hiện nay đều thuộc sở hữu của các hộ dân nên việc bảo tồn chủ yếu dựa vào điều kiện kinh tế của từng gia đình, đồng nghĩa với việc không ít di sản đã xuống cấp hoặc thay đổi theo thời gian. Những điều đó đang trở thành những thách thức hiện hữu đối với việc bảo tồn các ngôi nhà cổ. Trước đây, ngành văn hóa cũng cử người đến đo đạc, nghiên cứu chi tiết các ngôi nhà rường cổ, người làng khấp khởi với hy vọng về một hồ sơ đề nghị được công nhận di tích quốc gia, bởi nếu được công nhận, những ngôi nhà rường cổ sẽ được đầu tư kinh phí bảo tồn, trùng tu để tương xứng với trầm tích văn hóa.
Sau cơn dông mùa hạ, trong khoảng sân gạch loang lổ dấu thời gian, người làng Hội Kỳ như ông Mạnh, ông Dân, ông Tuệ, ông Dũng vẫn đau đáu nỗi niềm mong ngóng những ngôi nhà cổ sẽ được bảo tồn nhằm gìn giữ không gian văn hóa, nếp sống xưa và trao truyền di sản quý giá này lại cho các thế hệ mai sau.











