Hồi sinh mỏ Đại Hùng bằng công nghệ 'may đo' và bản lĩnh người lao động Petrovietnam
Từng bị các tập đoàn dầu khí hàng đầu thế giới từ bỏ do điều kiện địa chất phức tạp và hiệu quả kinh tế không khả thi, mỏ Đại Hùng đã được chuyển giao lại cho Việt Nam với giá tượng trưng 1 USD. Nhưng bằng trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần 'may đo' công nghệ phù hợp với thực tiễn mỏ, những người lao động Petrovietnam đã tạo nên kỳ tích: hồi sinh một mỏ dầu nước sâu xa bờ thành mỏ dầu có doanh thu nhiều tỷ đô, góp phần khẳng định năng lực khoa học công nghệ và ý chí làm chủ của ngành dầu khí, năng lượng Việt Nam.
Kỳ tích từ mỏ dầu “1 USD”
Lịch sử ngành dầu khí Việt Nam ghi dấu một sự kiện đặc biệt vào tháng 2/1999 khi các nhà thầu quốc tế lớn như BHP (Australia) và Petronas (Malaysia) chính thức rút lui khỏi dự án Đại Hùng, chuyển giao lại toàn bộ tài sản cho phía Việt Nam với mức giá tượng trưng "1 USD". Ở thời điểm đó, mỏ Đại Hùng được xem là một "bài toán không có lời giải" đối với các mô hình khai thác của phương Tây. Có thời điểm, sản lượng khai thác của mỏ lao dốc từ 35.000 thùng/ngày xuống chỉ còn khoảng 2.000 thùng/ngày, trong khi áp suất vỉa sụt giảm mất kiểm soát do cấu tạo địa chất phân khối mạnh thành hơn 30 khối nhỏ độc lập.
Chia sẻ về những khó khăn, thách thức của dự án, ThS Nguyễn Ngọc Trung - Phó Giám đốc Chi nhánh Thăm dò Khai thác Dầu khí Nam Côn Sơn (PVEP-NCS) - đơn vị thành viên của Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí - PVEP (thuộc hệ sinh thái Petrovietnam) cho biết: “Khó khăn lớn nhất khi đó là đặc điểm địa chất của mỏ rất phức tạp, cấu tạo phân mảnh, dị thường, trong khi điều kiện khai thác ngoài khơi xa rất khắc nghiệt. Bên cạnh đó, hiệu quả kinh tế của mỏ bị đặt dấu hỏi rất lớn”.

Mỏ Đại Hùng không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế khổng lồ mà còn sừng sững như những "cột mốc sống", góp phần khẳng định chủ quyền trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.
Tuy nhiên, dưới sự chỉ đạo, định hướng của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam - tiền thân là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam), thay vì đóng mỏ, PVEP đã quyết định “bắt tay” thực hiện với một hành trình nghiên cứu khoa học bền bỉ. Các chuyên gia Việt Nam nhận ra rằng, không thể áp dụng rập khuôn các mô hình quốc tế đắt đỏ vào một mỏ cận biên như Đại Hùng. Thay vào đó, một hệ thống giải pháp khoa học công nghệ “may đo” hoàn toàn bằng nội lực đã được hình thành.
Bước đột phá đầu tiên đến từ lĩnh vực địa vật lý. Nhóm nghiên cứu đã ứng dụng công nghệ tái xử lý địa chấn 3D-PSDM trên nền tảng dị hướng TTI, giúp "nhìn xuyên" qua những đới nhiễu để chính xác hóa cấu trúc địa chất phức tạp. Đây chính là "bản đồ dẫn đường" để các kỹ sư định vị chính xác vị trí các giếng khoan, tránh rủi ro đứt gãy và tối ưu hóa dòng chảy.
“Khoa học công nghệ chính là yếu tố quyết định. Từ công nghệ địa chấn, mô hình hóa địa chất, khoan định hướng cho đến tối ưu vận hành đều được nghiên cứu và áp dụng liên tục. Nhờ đó, chúng ta không chỉ duy trì sản lượng mà còn mở rộng được các đối tượng khai thác mới, nâng cao hệ số thu hồi dầu”, ThS Nguyễn Ngọc Trung chia sẻ.
Kết quả thực tế đã chứng minh bản lĩnh của đội ngũ kỹ sư nội địa. Tính đến cuối năm 2025, dự án đã mang lại doanh thu lũy kế trên 4,5 tỷ USD, nộp ngân sách Nhà nước hơn 650 triệu USD và dự kiến nâng lên 7,5 tỷ USD đến năm 2050. Từ một mỏ dầu đứng trước nguy cơ bị đóng cửa, Đại Hùng đã được hồi sinh, trở thành biểu tượng cho năng lực tự chủ công nghệ của người Việt.
Giữa khơi xa cách bờ khoảng 265 km, các giàn khoan hoạt động 24/7 tại mỏ Đại Hùng không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế khổng lồ mà còn sừng sững như những "cột mốc sống", góp phần khẳng định chủ quyền trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc.
Không dừng lại ở việc khôi phục sản lượng, dự án Đại Hùng còn là nơi ghi dấu những bước tiến vượt bậc của ngành dầu khí Việt Nam trong lĩnh vực cơ khí chế tạo và vận hành công trình biển nước sâu. Thay vì phụ thuộc vào hệ thống khai thác ngầm (subsea) tốn kém của nước ngoài, Việt Nam đã tự chủ hoàn toàn chuỗi công nghệ EPCI (Thiết kế - Mua sắm - Chế tạo - Lắp đặt) cho các giàn đầu giếng cố định (WHP).
Cùng với đó, việc thiết kế và xây dựng giàn WHP-DH02 - giàn công nghệ "không người ở" (unmanned) đặt tại độ sâu 128 m nước, các kỹ sư PVEP-NCS đã nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chân đế cọc váy và phương pháp hạ thủy đẩy trượt (skidding) từ sà lan phóng. Giải pháp này không chỉ giúp tiết kiệm hàng triệu USD chi phí thuê tàu cẩu siêu trường, siêu trọng của quốc tế mà còn khẳng định năng lực thi công cơ khí của Việt Nam tại khu vực nước sâu.

Thay vì phụ thuộc vào hệ thống ngầm đắt đỏ của phương Tây, Việt Nam đã tự chủ thiết kế và lắp đặt các giàn đầu giếng cố định (WHP) thông qua chuỗi công nghệ EPCI.
Sự sáng tạo còn thể hiện qua việc ứng dụng công nghệ "sửa chữa nổi" (Wet Docking) thay cho phương pháp đưa giàn lên đà (Dry Dock) truyền thống. Giải pháp này cho phép bảo dưỡng giàn FPU-DH01 ngay tại mỏ mà không cần dừng sản xuất, giúp tiết kiệm tới 35 triệu USD và bảo toàn dòng doanh thu liên tục cho Nhà nước.
Khi được hỏi về ý nghĩa của những thành công này đối với ngành dầu khí hiện nay, ThS Nguyễn Ngọc Trung chia sẻ: “Công trình cho thấy chúng ta hoàn toàn có thể làm chủ công nghệ, chủ động xây dựng giải pháp phù hợp với điều kiện Việt Nam thay vì phụ thuộc vào các mô hình nhập khẩu. Đây là nền tảng quan trọng để ngành tiếp tục phát triển các mỏ cận biên, mỏ khó và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng”.
Vượt lên trên những con số kinh tế, mỏ Đại Hùng còn mang trong mình một sứ mệnh thiêng liêng, đó là, góp phần khẳng định chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên thềm lục địa phía Nam. Các công trình ngoài khơi không chỉ là cơ sở công nghiệp hiện đại mà còn hỗ trợ cứu hộ, cứu nạn, cấp nước ngọt và nhiên liệu cho ngư dân đánh bắt xa bờ, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên biển.
“Đây là công trình mang tính kế thừa qua nhiều thế hệ. Từ các chuyên gia địa chất đầu tiên đến đội ngũ kỹ sư vận hành hôm nay, tất cả đều đóng góp bằng trí tuệ, kinh nghiệm và tinh thần dám nghĩ, dám làm. Chính sự kiên trì, sáng tạo và tinh thần không bỏ cuộc đã tạo nên thành công của Đại Hùng”, ThS Nguyễn Ngọc Trung nhìn nhận.

ThS Nguyễn Ngọc Trung - Phó Giám đốc PVEP-NCS đại diện nhóm tác giả công trình “Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả khai thác mỏ Đại Hùng” nhận Giải thưởng Khoa học và Công nghệ Dầu khí Việt Nam do Petrovietnam trao tặng.
Với việc triển khai giai đoạn Pha 3 và phát triển khu vực Đại Hùng Nam, mỏ dầu này dự kiến sẽ kéo dài tuổi thọ đến năm 2034 với tổng sản lượng cộng dồn đạt khoảng 123 triệu thùng. Và với những kết quả đã đạt được, công trình “Nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ để khôi phục, mở rộng và nâng cao hiệu quả khai thác mỏ Đại Hùng” đã được Petrovietnam trao tặng Giải thưởng Khoa học và Công nghệ Dầu khí Việt Nam năm 2026. Đây là sự ghi nhận cho một hành trình bền bỉ của khoa học và khát vọng của những người dầu khí, biến một mỏ dầu cũ thành niềm tự hào to lớn.
“Giải thưởng không phải là đích đến mà là động lực để chúng tôi tiếp tục theo đuổi các giải pháp công nghệ mới, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sâu rộng hơn nữa”, ThS Nguyễn Ngọc Trung khẳng định.











