Hơn 808.000 tỷ đồng triển khai Chương trình phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi
Quốc hội thống nhất tổng nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2030 là 808.558 tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng.
Chiều 24/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, với tuyệt đại đa số đại biểu Quốc hội tham gia tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035.
Theo Nghị quyết, Chương trình mới được hình thành trên cơ sở hợp nhất 4 chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.
Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2026 - 2035, ưu tiên các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn.

(Ảnh minh họa)
Tổng nguồn lực thực hiện Chương trình giai đoạn 2026 - 2030 là 808.558 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách trung ương 345.000 tỷ đồng, gồm 244.200 tỷ đồng vốn đầu tư công và 100.800 tỷ đồng kinh phí thường xuyên.
Ngân sách địa phương dự kiến 395.392 tỷ đồng; ngân sách nhà nước cấp thực hiện tín dụng chính sách 23.000 tỷ đồng; nguồn đối ứng của các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng 20.429 tỷ đồng và nguồn huy động hợp pháp khác 24.737 tỷ đồng.
Chương trình tập trung thực hiện 4 nhóm nhiệm vụ lớn: xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi; bảo tồn, phát triển văn hóa; hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển.
Nguyên tắc phân bổ ngân sách là đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, không manh mún, dàn trải; ưu tiên ở mức cao nhất cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới, hải đảo.
Ngân sách được phân bổ hằng năm căn cứ nhu cầu, kết quả thực hiện mục tiêu, giải ngân, tiến độ và mức độ sẵn sàng thực hiện; đồng thời có cơ chế hỗ trợ địa phương còn hạn chế về năng lực chuẩn bị dự án, bảo đảm không làm giảm khả năng tiếp cận nguồn lực của địa phương khó khăn.
Giá trị của việc hợp nhất phải được đo bằng việc chính sách đến với người dân nhanh hơn, đúng đối tượng hơn, thủ tục gọn nhẹ hơn, nguồn lực được quản lý tập trung và hiệu quả hơn.
Trước đó, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tóm tắt Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, việc hợp nhất không làm thay đổi, không thu hẹp các nội dung đã được Quốc hội quyết nghị. Toàn bộ mục tiêu, phạm vi, đối tượng thụ hưởng, thời gian thực hiện, tổng nguồn lực, cơ chế chính sách đặc thù và nhiệm vụ trọng tâm của 4 Chương trình trước khi hợp nhất đều được rà soát, kế thừa đầy đủ trong Chương trình mới. Việc sắp xếp lại chủ yếu tập trung vào đầu mối quản lý, cơ chế phân bổ nguồn lực và phương thức tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả quản trị, không cắt giảm chính sách hoặc quyền lợi của đối tượng thụ hưởng.
Về tính thực chất bảo đảm nguồn lực khi thực hiện hợp nhất các Chương trình, tiếp thu ý kiến của đại biểu, Chính phủ không áp dụng máy móc một tỷ lệ cố định giữa vốn đầu tư công và kinh phí thường xuyên cho mọi nhóm nhiệm vụ. Việc cơ cấu lại nguồn lực phải đảm bảo ưu tiên đầu tư có trọng tâm trọng điểm, rõ kết quả đầu ra, tiết kiệm chi thường xuyên không làm thay đổi mục tiêu, đối tượng, mức độ ưu tiên do Quốc hội quyết định.
Về đổi mới cơ chế quản lý và phân cấp. Tinh thần xuyên suốt là “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. Nhưng phân cấp phải đi cùng với năng lực và trách nhiệm giải trình.
Trên tinh thần đó, Chính phủ chỉ đạo các địa phương lưu ý khi quyết định phân cấp cho cấp xã phải làm rõ thẩm quyền, có đủ tiêu chuẩn định mức, dữ liệu, nhân sự, năng lực chuyên môn và cơ chế hậu kiểm. Có giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho xã chưa đủ điều kiện để nhận phân cấp, đồng thời chuyển mạnh từ quản lý theo quy trình sang quản lý theo kết quả đầu ra, xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung để theo dõi nguồn lực, đối tượng và kết quả thực hiện phục vụ công tác quản lý và giám sát.
Về đảm bảo ưu tiên cao nhất đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Chính phủ tiếp thu, đảm bảo nguyên tắc ưu tiên ở mức cao nhất cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được thể hiện trong dự thảo Nghị quyết của Quốc hội; đồng thời dự thảo Nghị quyết của Chính phủ cũng quy định riêng các chính sách đặc thù đối với vùng này. Chính phủ sẽ tiếp tục hoàn thiện tiêu chí, hệ số phân bổ để phản ánh mức độ khó khăn và đặc thù của từng địa bàn bảo đảm nguồn lực được tập trung trực tiếp đến với người dân, cộng đồng yếu thế và các xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026-2035, Quốc hội quyết nghị mục tiêu cụ thể của Chương trình đến năm 2035, trong đó:
- Về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi:
+ Tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước duy trì mức giảm 1% - 1,5%/năm theo chuẩn nghèo giai đoạn 2031 - 2035;
+ Phấn đấu giảm ít nhất 50% số xã, thôn khó khăn trên địa bàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi;
+ Phấn đấu cả nước có khoảng 85% số xã đạt chuẩn nông thôn mới;…
- Về phát triển văn hóa:
+ Phấn đấu 100% các địa phương đưa nội dung giáo dục đạo đức, lối sống, hệ giá trị gia đình thời kỳ mới vào hương ước, quy ước của dòng họ, cộng đồng, làng xã và hỗ trợ thực hiện có hiệu quả;
+ Phấn đấu hoàn thành việc tu bổ, tôn tạo 100% di tích quốc gia đặc biệt và ít nhất 80% di tích quốc gia;
+ Phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 8% GDP của cả nước;…
- Về hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo:
+ 100% cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông đạt chuẩn về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học tối thiểu; các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông có thiết bị dạy học để triển khai thực hiện dạy và học một số môn bằng tiếng Anh, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học;
+ Phát triển hệ thống giáo dục đại học hiện đại, ngang tầm khu vực về đào tạo chất lượng cao, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo…
- Về chăm sóc sức khỏe, dân số và phát triển:
+ Tỷ lệ trạm y tế xã, phường, đặc khu triển khai thực hiện dự phòng, quản lý, điều trị một số bệnh không lây nhiễm theo hướng dẫn của Bộ Y tế duy trì đạt 100%;
+ Tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi trẻ em dưới 5 tuổi giảm xuống dưới 13%;…
