Hợp lực vùng – mạch máu cho chu kỳ tăng trưởng mới

(KTSG Online) - Những ngày đầu năm với nhịp sống chậm, cũng là lúc nhìn lại tăng trưởng Việt Nam thời gian qua. Sau nhiều năm dựa vào vốn và lao động giá rẻ, đất nước đang đứng trước ngưỡng mới: tăng trưởng không chỉ mở rộng mà phải dựa vào năng suất, hiệu quả và liên kết vùng. Hạ tầng giờ đây là mạch máu kinh tế, kết nối doanh nghiệp, thị trường và người dân đồng thời quyết định chất lượng tăng trưởng cho giai đoạn tới.

Hạ tầng hiện đại không chỉ là đường, cảng hay metro riêng lẻ mà là hệ thống vận hành các dòng chảy kinh tế từ sản xuất, vận tải đến phân phối và tiêu dùng. Khi kết nối hiệu quả, hạ tầng giúp giảm chi phí, mở rộng thị trường và nâng cao năng suất. Một dự án chỉ thực sự tạo giá trị khi đặt đúng vị trí trong tổng thể và gắn kết với các mạch nhánh kinh tế.

Trong hơn một thập niên, Việt Nam hoàn thiện trục cao tốc Bắc - Nam gần 2.000 km, mở rộng cảng biển, cảng cạn và kho vận hiện đại, đồng thời vận hành đường sắt đô thị tại các thành phố lớn. Không gian phát triển được nới rộng qua đô thị vệ tinh và khu công nghiệp trải dài từ Bắc vào Nam, tạo xương sống giao thông, nâng cao năng suất lao động và kỳ vọng chất lượng đô thị mới.

Tuy nhiên, hiệu quả lan tỏa vẫn chưa đạt kỳ vọng. Chi phí logistics chiếm khoảng 16,8-17% GDP, cao hơn mức trung bình toàn cầu 10-12% và các nước khu vực. Ngành logistics mở rộng nhanh, nhưng chi phí cao vẫn là rào cản cho xuất khẩu và vận hành chuỗi cung ứng, làm tăng giá thành hàng hóa, kéo theo chi phí sinh hoạt của người dân.

Vấn đề không chỉ nằm ở đầu tư mà còn ở tư duy tổ chức. Nhiều dự án triển khai riêng lẻ, theo ranh giới hành chính. Quy hoạch giao thông, công nghiệp và logistics thiếu tích hợp. Hệ quả là các tuyến cao tốc chưa gắn với kho bãi, cảng cạn và trung tâm phân phối; đường bộ chưa kết nối hiệu quả với đường thủy và đường sắt; cụm sản xuất phát triển phân tán, khó hình thành chuỗi giá trị sâu.

Cao tốc Bắc - Nam giúp rút ngắn thời gian di chuyển và kết nối liên vùng, nhưng nếu chỉ dừng ở chức năng lưu thông, tác động đến chuỗi giá trị rất hạn chế. Một trục chính chỉ phát huy hiệu quả khi nối với các “mạch nhánh”, đường địa phương, cảng biển, trung tâm logistics và cụm sản xuất. Thiếu những mạch nối này, cao tốc đi nhanh hơn nhưng chưa chắc tạo giá trị kinh tế cao hơn, đồng nghĩa lợi ích cho doanh nghiệp và người dân chưa tối ưu.

Tương tự, nhiều cảng biển đầu tư lớn nhưng kết nối đa phương thức yếu. Đường sắt và thủy nội địa chưa phát huy vai trò tương xứng. Tại đô thị lớn, metro thường chỉ là giải pháp giao thông, trong khi kinh nghiệm quốc tế cho thấy metro còn là công cụ tổ chức không gian đô thị, phân bố lao động và nâng cao năng suất. Khi metro đứng ngoài quy hoạch kinh tế, vai trò bị thu hẹp.

Các chuyên gia nhận định, tối ưu hạ tầng và phát huy lan tỏa cần cách tiếp cận mới: không phải xây càng nhiều càng tốt, mà tổ chức hạ tầng như hệ thống xuyên vùng, liên thông và hiệu quả. Đây là điểm mấu chốt để hạ tầng trở thành mạch máu kinh tế, nơi người dân đi lại thuận tiện, doanh nghiệp vận hành trôi chảy và chi phí logistics giảm.

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Việt Nam buộc phải chuyển từ tăng trưởng chiều rộng sang chiều sâu. Khi lợi thế vốn và lao động giá rẻ thu hẹp, năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng tăng trưởng trở thành yếu tố quyết định. Nhưng điều này chỉ xảy ra khi hạ tầng vận hành như mạch máu kinh tế xuyên vùng, thúc đẩy chuỗi giá trị lan tỏa mạnh.

Một bước đi then chốt là sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, giảm từ 63 xuống còn 34 tỉnh, thành phố. Quyết sách này không chỉ là cải cách hành chính mà là tái cấu trúc không gian phát triển, tạo “siêu vùng” đủ lớn để thu hút vốn, mở rộng thị trường và tích hợp hạ tầng liên vùng. Nó tối ưu nguồn lực, giảm trùng lặp bộ máy, thông suốt thể chế và nâng cao hiệu lực quản lý, từ đó giải phóng tiềm năng tăng trưởng. Đồng thời, quá trình này giảm chi phí hành chính, tăng hiệu suất điều phối và mở rộng không gian quy hoạch cho các dự án liên vùng.

Hợp lực vùng vượt xa ngôn ngữ hành chính. Nó cho phép quy hoạch kinh tế - xã hội theo quy mô mới, nơi các trục hạ tầng lớn như cao tốc, cảng biển, sân bay quốc tế và chuỗi logistics tích hợp đồng bộ với khu công nghiệp, đô thị vệ tinh và dịch vụ giá trị cao. Hạ tầng không còn là “kênh vận tải” mà trở thành mạch máu kinh tế xuyên vùng, kết nối sản xuất - phân phối - tiêu thụ, giúp chuỗi giá trị nội địa phát triển sâu, giảm chi phí cho doanh nghiệp và mang lại tiện ích trực tiếp cho người dân.

Minh chứng rõ ràng là Vành đai 3 TPHCM. Tuyến vành đai giảm áp lực giao thông trung tâm và tổ chức lại không gian kinh tế vùng Đông Nam bộ. Khi được xem là hạ tầng dùng chung của vùng, Vành đai 3 kết nối trung tâm công nghiệp, logistics và đô thị vệ tinh thành cấu trúc thống nhất. Sản xuất không phải tập trung vào lõi đô thị, logistics bố trí hợp lý, chi phí vận hành giảm. Hiệu ứng lan tỏa mở rộng toàn vùng, giúp doanh nghiệp vận hành hiệu quả hơn, người dân tiếp cận dịch vụ tốt hơn.

Cao tốc Bắc - Nam, nếu đặt trong tư duy hệ thống, cũng có thể dẫn dắt chuỗi giá trị quốc gia. Khi gắn với cảng biển, trung tâm logistics và cụm sản xuất, cao tốc không chỉ rút ngắn khoảng cách mà mở rộng không gian thị trường. Chuỗi cảng và logistics cần vận hành như hệ sinh thái: cảng biển, cảng cạn, kho bãi và vận tải đa phương thức đồng bộ. Khi dòng chảy logistics thông suốt, lợi thế địa kinh tế Việt Nam mới được khai thác trọn vẹn.

Trong đô thị, metro cần tích hợp với công nghiệp công nghệ cao, dịch vụ giá trị gia tăng và trung tâm đổi mới sáng tạo. Khi đó, metro không chỉ giải quyết đi lại mà nâng cao năng suất và chất lượng tăng trưởng. Hợp lực vùng không chỉ là hạ tầng giao thông, mà còn là hạ tầng năng lượng, số và thể chế điều phối. Công nghiệp xanh, năng lượng tái tạo và chuyển đổi số đòi hỏi nền tảng hạ tầng đồng bộ, linh hoạt và kết nối cao.

Với doanh nghiệp Việt, đây là thời điểm điều chỉnh chiến lược. Khi lợi thế chi phí thu hẹp, cơ hội nằm ở tận dụng hạ tầng liên vùng để phát triển dịch vụ giá trị cao, xuất khẩu tri thức và ứng dụng công nghệ, trong đó có AI. Khi không gian kinh tế mở rộng và kết nối hiệu quả, dư địa tăng trưởng dịch chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu.

Logistics là “mạch giữ dòng” của chuỗi giá trị, và hợp lực vùng là bộ khung thiết lập dòng chảy hiệu quả. Chính phủ đang theo đuổi chiến lược phát triển logistics đến 2035, với mục tiêu trở thành trung tâm khu vực, giảm chi phí xuống 10-12% GDP và nâng đóng góp lên 7-9% GDP vào 2050. Nhưng giảm chi phí phải đi kèm hệ thống vận tải liên vùng hoàn chỉnh, đạt chuẩn quốc tế, nếu muốn duy trì lợi thế cạnh tranh trong bối cảnh FDI chọn lọc điểm đến.

Mạng lưới giao thông, kho bãi, cảng và dịch vụ logistics không thể vận hành rời rạc theo ranh giới hành chính. Nó cần hoạt động như nút giao liên vùng, giảm tổng chi phí chuỗi giá trị và mở ra không gian phát triển mới.

Mỗi giai đoạn phát triển đòi hỏi cách tổ chức hạ tầng khác. Ở ngưỡng cao hơn, quyết định không còn là số lượng công trình, mà là khả năng kết nối để tạo năng suất mới. Khi hạ tầng được nhìn nhận như hệ thống chung của vùng và nền kinh tế, lợi thế vị trí địa lý chuyển hóa thành sức mạnh cạnh tranh bền vững, doanh nghiệp phát triển hiệu quả, người dân hưởng tiện ích rõ rệt.

Lê Hoàng

Nguồn Saigon Times: https://thesaigontimes.vn/hop-luc-vung-mach-mau-cho-chu-ky-tang-truong-moi/