Hương trà trong nếp sống

Ngày xuân bên chén trà, nhẩn nha thưởng ẩm, tâm hồn phiêu diêu như bơi trong dòng then, câu lượn, lòng nhẹ lâng theo tiếng đàn tính dìu ta về miền hoài niệm với bể dâu, nương chè. Một vùng đất có sông Công, sông Cầu uốn mình như dải lụa mềm, ôm ấp từng vồng đồi nở nang, lặng lẽ tắm tưới cho luống chè nảy lộc biếc, để rồi dâng hiến cho con người những tinh túy kết tụ từ nắng gió, mưa nguồn và chiều sâu văn hóa.

Du khách nước ngoài thưởng trà tại Thái Nguyên.

Du khách nước ngoài thưởng trà tại Thái Nguyên.

Tay nâng chén trà sóng sánh xanh thấy sợi khói nhẹ loang mang theo mùi hương cốm đồng làng mùa gặt, môi nhẩn nha nhấp lấy vị chát dịu đầu lưỡi để rồi hơi ấm của nước thấm dần, nâng đỡ và đánh thức dư vị hậu ngọt nơi cuống họng. Trong hương trà ấm nồng, xuân không chỉ hiện hữu ở sắc trời, dáng núi mà còn thấm vào nếp sống, vào nghĩa tình của con người xứ sở, bền bỉ và thủy chung như chính vị chát dịu ngọt của chè xứ Thái.

Cái thú uống trà lặng lẽ đi vào đời sống con người từ hàng trăm năm nay, bền bỉ như một thói quen đẹp, tinh tế mà sâu lắng, dần trở thành nét văn hóa ẩm thực độc đáo, giàu chiều sâu nhân văn. Cũng lúc ấy ta nhận ra trà không chỉ để thưởng thức, mà còn là sợi dây ký ức, là biểu tượng văn hóa gắn với mỗi vùng đất, mỗi dân tộc.

Ví như Trung Quốc có Trà Kinh kết tinh triết lý phương Đông; Nhật Bản có Trà Đạo nghiêm cẩn, tĩnh tại; Sri Lanka nổi danh với chè Tích Lan lan tỏa hương vị ra khắp năm châu.

Để rồi trong dòng chảy thời gian mang theo nét đẹp văn hóa của những miền đất ấy, trà Việt Nam cũng lặng lẽ khẳng định bản sắc riêng bằng vị chát dịu, hậu ngọt sâu, đậm đà như chính cốt cách con người và đất đai xứ sở. Thế giới đã có hàng kho sách nói về chè và trà. Ở Việt Nam cũng có hàng pho sách nói về chè và trà, trong đó có sách nói về kỹ thuật trồng, chăm sóc, chế biến chè và sách luận về văn hóa thưởng trà. Nhất là lúc bạn hữu ngồi với nhau, trò chuyện tâm giao, thường lấy ấm trà Thái Nguyên, giữ khách. Cũng bởi chè Thái Nguyên có hương, vị khác biệt làm bao du khách đến Thái Nguyên, “lỡ” uống một lần thì giống như nỗi nhớ của người đang yêu mà không được ở gần với người mình yêu.

Người dân xóm Na Pháng, xã Yên Trạch thu hái chè.

Người dân xóm Na Pháng, xã Yên Trạch thu hái chè.

Nhờ có thổ nhưỡng phù hợp cho cây chè phát triển, nên sản phẩm chè của Thái nguyên trở nên đặc biệt hơn so với các vùng chè khác trong nước. Nhưng điều chắc chắn là ngoài đất tốt, nước lành cho cây chè Thái Nguyên trở nên nổi tiếng, còn có sự cần mẫn, chuyên tâm của người làm chè. Hơn thế, trong chè Thái Nguyên còn ẩn chứa, tích lũy một niềm đam mê, lề lối làm ăn có lương tâm, trách nhiệm của người nông dân ùng chè.

Chừng trăm năm trước, quan niệm về đạo trà đã bắt đầu hình thành trên vùng đất Thái Nguyên. Khởi đầu phải kể tới cụ Đội Năm cùng một số người dân Tân Cương đã tay nải, cơm nắm, vượt rừng sang Phú Thọ lấy hạt chè giống về trồng bên bãi soi bồi ven dòng sông Công, rồi lập xưởng chế biến, làm ra sản phẩm chè Cánh Hạc bán cho người Hà Nội, Hải Phòng và xuất khẩu sang Pháp.

Câu chuyện về chè và trà chảy dài cùng dòng thời gian, thấm đẫm vào hồn người, trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống. Đó là văn hóa tinh hoa trà. Đời người như tấc gang, mới đó đã trăm năm, từ ít vuông chè năm xưa nay đã thành những vùng chè liền dải.

Người Thái Nguyên tự hào là sở hữu diện tích chè lớn nhất cả nước, với gần 24.000ha, trong đó gần 23.000ha chè cho sản phẩm, tổng sản lượng chè búp tươi đạt hơn 270.000 tấn/năm. Đặc biệt trên toàn tỉnh có gần 200 sản phẩm chè OCOP từ 3 đến 5 sao.

Trăm năm đi qua, cây chè vẫn gắn bó gần gũi với con người. Để mỗi ngày, nâng chén trà được thấy vị trà đằm ở môi, hương trôi về họng. Cho mỗi sớm, lúc giọt sương còn đọng long lanh trên búp lá, hái mang về hãm thành chè tươi, hoặc đem sao xấy thành chè khô, pha uống đều cho con người sự cảm nhận lãng mạn, tỉnh táo.

Là nói cho phải đạo của người xứ trà, chứ để có được cái màu xanh diệp lục mỡ màng, chất chứa trong búp lá cái vị chát, ngọt hậu cùng thứ hương trời - đất quyện hòa làm mê mẩn tao nhân mặc khách, người trồng chè phải đánh đổi bằng rất nhiều công sức, mồ hôi, bón chăm, tưới tắm mới có ngày thu hái. Rồi lại ngồi ôm lấy bếp lò, sao chè bằng nhiệt, tách nước bằng tay với ngọn lửa than củi. Cho đến lúc thành chè mốc cau (sau gọi chệch là chè móc câu), thấy tròn cánh, trôi tay mới yên lòng mang phục vụ người tiêu dùng.

Thái Nguyên hiện có gần 200 sản phẩm chè đạt OCOP từ 3 đến 5 sao.

Thái Nguyên hiện có gần 200 sản phẩm chè đạt OCOP từ 3 đến 5 sao.

“Cái” đạo trà được người dân vùng chè Thái Nguyên tạo dựng, gìn giữ, lưu truyền từ thế hệ trước sang thế hệ sau. Đạo trà vì thế ăn sâu vào tiềm thức, tư duy mỗi người, và luôn nhắc nhớ nhau gìn giữ, coi đạo trà là cái gốc nuôi sống dân vùng chè.

Nhất là trong cơ chế thị trường hôm nay, lợi nhuận là quan trọng, nhưng không phải là tất cả với người dân vùng chè. Vì “cái” đạo trà “nó” ngấm vào máu huyết, thẩm thấu sâu vào tư duy, không cho phép người vùng chè Thái Nguyên dễ dãi làm ra những sản phẩm chè kém chất lượng, rồi đóng gói bán cho người tiêu dùng.

Cũng không đơn thuần trong đạo trà là tục vợ pha trà mời chồng, con pha trà mời cha, người dưới tuổi pha trà mời người cao tuổi hơn, mà chén trà được coi là phương tiện hữu hiệu làm mọi người gần gũi, thân thiện, dễ cảm thông và biết chia sẻ yêu thương.

Và trong từng chén trà - dù nhỏ hay lớn cũng đều chứa đựng ở đó một khoảng thiên nhiên tươi đẹp. Hơn thế nữa, trong hương, vị của trà còn chuyển tải đến người thưởng trà thông điệp về nét đẹp văn hóa tinh hoa, lịch sử một vùng đất, con người.

Bên chén trà xuân, lòng người như vơi nguôi nỗi niềm cơm áo, có phút giây tĩnh tại cho riêng mình. Và chợt thấy như lòng đằm lại trước một năm mới được mở ra cùng đào, mai rực rỡ. Một năm mới, một hành trình mới của đời người, nên làm gì và đừng bao giờ làm những điều để lương tâm day dứt. Ấy là đạo trà của người dân vùng chè Thái Nguyên.

Phạm Ngọc Chuẩn

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/van-hoa/202602/huong-tra-trong-nep-song-449564d/