Huỳnh Thúc Kháng - Tấm gương khí tiết, trọn đời phụng sự Tổ quốc, nhân dân

Trên hành trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng đất nước, cụ Huỳnh Thúc Kháng là một trong những nhân sĩ yêu nước tiêu biểu, nhà hoạt động cách mạng, nhà văn hóa, nhà báo có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp giải phóng dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp của cụ là biểu tượng của lòng yêu nước, khí tiết kiên trung, tinh thần trách nhiệm và đức tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, để lại những giá trị sâu sắc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

Từ chí sĩ Duy Tân đến người chiến sĩ kiên trung

Cụ Huỳnh Thúc Kháng sinh ngày 1/10/1876, tại vùng đất Quảng Nam giàu truyền thống yêu nước, cụ sớm nổi tiếng là người thông minh, học giỏi và có chí hướng lớn. Đỗ Giải nguyên năm 1900, đỗ Tiến sĩ năm 1904, nhưng thay vì lựa chọn con đường làm quan, cụ quyết định dấn thân vào sự nghiệp cứu nước, tìm kiếm con đường canh tân dân tộc.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Cụ Huỳnh Thúc Kháng.

Đầu thế kỷ XX, cùng với Phan Châu Trinh và Trần Quý Cáp, cụ Huỳnh Thúc Kháng trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ. Cụ tích cực vận động mở trường học, truyền bá chữ Quốc ngữ, khuyến khích thực học, phát triển thương nghiệp, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí và cải thiện đời sống nhân dân.

Những tư tưởng tiến bộ ấy đã góp phần tạo nên một phong trào canh tân sâu rộng, thổi luồng sinh khí mới vào đời sống xã hội lúc bấy giờ. Với cụ, cứu nước không chỉ là đấu tranh giành độc lập mà còn là nâng cao dân trí, xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ.

Năm 1908, khi phong trào chống sưu thuế bùng nổ, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt phong trào Duy Tân, cụ Huỳnh Thúc Kháng bị bắt, kết án và đày ra Côn Đảo. Suốt 13 năm trong lao tù, cụ vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục trước cường quyền.

Những năm tháng nơi địa ngục trần gian không làm lung lay ý chí của người chí sĩ yêu nước. Trái lại, đó trở thành quãng thời gian để cụ tiếp tục học tập, nghiên cứu, sáng tác văn thơ, trao đổi tư tưởng với các tù chính trị, nuôi dưỡng khát vọng độc lập dân tộc.

Chính trong gian khó, phẩm chất kiên trung, bản lĩnh và lòng yêu nước của cụ Huỳnh Thúc Kháng càng được tôi luyện, trở thành biểu tượng của khí phách người trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Người làm báo kiên định vì dân, vì nước

Sau khi được trả tự do năm 1921, cụ Huỳnh Thúc Kháng tiếp tục con đường hoạt động yêu nước bằng nhiều hình thức phù hợp với hoàn cảnh mới. Trên cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, cụ kiên trì đấu tranh đòi dân quyền, dân sinh và bảo vệ lợi ích của nhân dân. Tuy nhiên, dấu ấn nổi bật nhất của cụ trong giai đoạn này chính là lĩnh vực báo chí.

Năm 1927, cụ sáng lập báo “Tiếng Dân” và trực tiếp đảm nhiệm vai trò chủ nhiệm kiêm chủ bút. Trong suốt 16 năm tồn tại, tờ báo trở thành diễn đàn phản ánh đời sống xã hội, bảo vệ quyền lợi của nhân dân, cổ vũ tinh thần dân tộc và đấu tranh chống những bất công trong xã hội. Dưới sự điều hành của cụ Huỳnh Thúc Kháng, “Tiếng Dân” không chỉ đơn thuần là một tờ báo mà còn là tiếng nói của lương tri và trách nhiệm công dân. Cụ yêu cầu mọi thông tin phải được điều tra, xác minh cẩn trọng; sai phải sửa nhưng điều đúng thì kiên quyết bảo vệ dù chịu nhiều sức ép.

Trong những năm vận động dân chủ 1936 - 1939, báo “Tiếng Dân” liên tục phản ánh những nguyện vọng chính đáng của người dân về dân sinh, dân chủ, giáo dục, y tế, đời sống lao động và quyền tự do báo chí. Đặc biệt, từ năm 1938, cụ đăng nhiều bài viết khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, dựa trên các tư liệu lịch sử xác thực. Đây là minh chứng cho tinh thần trách nhiệm đối với chủ quyền lãnh thổ quốc gia của một nhà báo yêu nước.

Trong điều kiện bị kiểm duyệt gắt gao, cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn giữ vững nguyên tắc nghề nghiệp, bảo vệ tiếng nói độc lập của báo chí. Có những bài viết bị cắt bỏ, cụ vẫn để nguyên khoảng trống trên mặt báo để độc giả thấy được sự can thiệp của nhà cầm quyền.

Trường dạy làm báo mang tên Huỳnh Thúc Kháng tại tỉnh Thái Nguyên.

Trường dạy làm báo mang tên Huỳnh Thúc Kháng tại tỉnh Thái Nguyên.

Nhìn lại sự nghiệp của cụ, có thể thấy những giá trị về bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của người làm báo vẫn còn nguyên ý nghĩa trong thời đại hôm nay.

Trọn đời phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân

Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cụ Huỳnh Thúc Kháng được Chủ tịch Hồ Chí Minh mời tham gia Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Đây là sự ghi nhận đối với uy tín, đức độ và những đóng góp to lớn của cụ đối với dân tộc.

Là một chí sĩ yêu nước không phải đảng viên cộng sản nhưng được giao trọng trách quan trọng trong Chính phủ, cụ Huỳnh Thúc Kháng trở thành biểu tượng sinh động của khối đại đoàn kết dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng.

Năm 1946, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán, cụ được giao thay mặt điều hành công việc thường ngày của Chính phủ. Trong bối cảnh nền độc lập non trẻ đứng trước muôn vàn thử thách, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã hoàn thành xuất sắc trọng trách được giao, góp phần giữ vững sự ổn định của chính quyền cách mạng. Câu nói nổi tiếng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cụ trước lúc lên đường: “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” đã trở thành một bài học lớn về bản lĩnh và nghệ thuật lãnh đạo trong những thời khắc khó khăn của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ảnh tư liệu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và cụ Huỳnh Thúc Kháng (hàng đầu, thứ nhất từ phải sang) trong Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ảnh tư liệu.

Cuối năm 1946, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, dù tuổi cao, sức yếu, cụ vẫn nhận nhiệm vụ vào miền Trung động viên đồng bào, chiến sĩ, củng cố niềm tin vào cuộc kháng chiến.

Ngày 21/4/1947, cụ từ trần tại Quảng Ngãi khi đang làm nhiệm vụ. Trước lúc đi xa, cụ vẫn tha thiết kêu gọi toàn dân đoàn kết, chung sức bảo vệ nền độc lập của dân tộc.

150 năm (1/10/1876 - 1/10/2026) đã trôi qua kể từ ngày cụ Huỳnh Thúc Kháng cất tiếng khóc chào đời, những giá trị mà cụ để lại còn nguyên sức sống. Đó là lòng yêu nước gắn với hành động cụ thể; là khí tiết của người trí thức trước vận mệnh dân tộc; là tinh thần tận tụy vì dân, vì nước; là bản lĩnh của người làm báo dám bảo vệ lẽ phải và sự thật.

Trong giai đoạn đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển khoa học công nghệ và chuyển đổi số, những bài học về tinh thần tự học, tư duy đổi mới, trách nhiệm công dân và khát vọng cống hiến từ cuộc đời cụ Huỳnh Thúc Kháng vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc. Học tập tấm gương của cụ không chỉ là sự tri ân đối với một bậc chí sĩ yêu nước mà còn là động lực để mỗi cán bộ, đảng viên và người dân tiếp tục phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết, sáng tạo, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh và hạnh phúc.

P. V

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/huynh-thuc-khang-tam-guong-khi-tiet-tron-doi-phung-su-to-quoc-nhan-dan-3192827.html