KHOA NGỮ VĂN - 75 NĂM TRÊN MỘT CON ĐƯỜNG LỚN
Từ những “giảng đường” tranh tre của năm 1951, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đi qua 75 năm, bồi đắp một truyền thống học thuật, nghĩa tình và đứng trước những thử thách mới của thời đại số.

Sinh viên về dự Lễ kỉ niệm 65 năm thành lập Khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Bảy mươi lăm năm trước, những sinh viên khóa đầu tiên của Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội lên lớp trong một “giảng đường” là căn nhà ba gian bằng tranh tre nứa lá. Bàn học là chiếc bàn gỗ gấp, mặt bàn chỉ rộng chừng hai tờ giấy khổ A4, có thể đeo theo người khi đến lớp. Buổi tối, mỗi sinh viên tự tạo một chiếc đèn dầu hỏa, có khi từ một lọ đựng thuốc bột penicillin cũ, để học.
Một con đường 75 năm của Khoa Ngữ văn đã bắt đầu như thế.

Thầy và trò những năm chiến tranh.


Từ những chiếc bàn gỗ chỉ rộng hai tờ giấy A4
Khoa Ngữ văn được thành lập ngày 11/10/1951, cùng với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Nghèo về vật chất nhưng giàu tình thương yêu, đoàn kết, giàu nhiệt huyết và quyết tâm, những sinh viên khóa đầu tiên lại được thụ giáo những giáo sư nổi tiếng như Đặng Thai Mai, Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Nguyễn Lương Ngọc, Trương Tửu... Nhiều người trong số họ sau này trở thành những nhà giáo, nhà khoa học thành danh như Đặng Thanh Lê, Phan Trọng Luận, Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Xuân Nam...
Truyền thống thương yêu, đoàn kết từ những ngày đầu thành lập Khoa tiếp tục được bồi đắp qua những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, khi sơ tán lên Phúc Lương, Đại Từ, Thái Nguyên, lúc về Quần Ngọc, Trung Hòa, Yên Mỹ, Hưng Yên. Giảng đường lại là nhà tranh, tường đất, có thời gian thư viện được đặt trong một ngôi chùa nhỏ ở địa phương. Những năm khó khăn, thiếu thốn của thời bao cấp, thầy trò vẫn nhường nhau một mảnh vải may quần áo, một chiếc lốp xe đạp, sẻ chia từng lạng đường, lạng thịt.
Từ giảng đường ra chiến trường và từ chiến trường về lại giảng đường, khi cầm bút, lúc cầm súng là lẽ sống của nhiều cán bộ giảng dạy và sinh viên Khoa Ngữ văn trong những năm chiến tranh. Hai đại đội tự vệ gồm thầy trò Khoa lập Tổ trực chiến và Đài quan sát trên tầng thượng nhà A7, được mệnh danh là “Con mắt phía tây thành phố”. Có những sinh viên vừa tốt nghiệp đã lên đường ra chiến trường, sau này trở thành những nhà thơ, nhà văn nổi tiếng như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Tô Nhuận Vỹ. Có những cán bộ giảng dạy, sinh viên đã hy sinh nơi chiến trường.

Giáo sư Lã Nhâm Thìn (hàng trước bên phải) và các bạn thời quân ngũ.

Tôn sư trọng đạo là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam và cũng là một “bảo vật” của Khoa Ngữ văn. Các thế hệ sinh viên Khoa Văn, ở thời kỳ nào, cũng tìm thấy ở những người thầy những tấm gương về nhân cách và tài năng để học hỏi, noi theo. Gắn bó với nghề giáo, nghiệp văn, vì thế, cũng trở thành một nét đẹp của người Khoa Văn.
Nhưng có lẽ có những điều không cần nói bằng những lời lớn.
Sau hơn nửa thế kỷ, khi trở lại thăm lớp học đầu tiên tại thôn Mao Xá, Thiệu Hóa, Thanh Hóa, những sinh viên năm xưa vẫn được người dân nhận ra. Khi biết cán bộ giảng dạy Khoa Văn trở lại thăm nơi sơ tán ở Quần Ngọc, Trung Hòa, Yên Mỹ, có người dân không ngủ được, dậy từ ba giờ sáng. Ngay từ sớm, bà con đã tập trung ở đình làng để đón những người mà họ gọi bằng hai tiếng thân tình: “người nhà”.
Hai tiếng “người nhà”, sau hơn nửa thế kỷ, có lẽ đã nói được nhiều về nghĩa tình và truyền thống của Khoa Văn.

Lãnh đạo Khoa và cựu sinh viên khóa 1 trên nền lớp học đầu tiên năm 2006
"Đại học Sư phạm phải đi cùng, đi trước phổ thông"
Trên con đường 75 năm ấy, Khoa Ngữ văn đã trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu lớn về Ngữ văn. Khoảng 16.000 sinh viên chính quy, hơn 5.300 sinh viên tại chức và từ xa, gần 3.850 thạc sĩ, 482 tiến sĩ đã được đào tạo từ đây.
Khoa cũng là nơi xuất bản những bộ giáo trình đầu tiên ở bậc đại học về chuyên ngành Ngữ văn. Qua từng thời kỳ cải cách, đổi mới giáo dục, các giáo trình tiếp tục được bổ sung, đổi mới cả về nội dung và phương pháp, bao quát những chuyên ngành từ văn học dân gian, văn học Việt Nam trung đại, hiện đại, văn học nước ngoài đến lý luận văn học, ngôn ngữ, Hán Nôm...
Một phương châm của Khoa Ngữ văn là: Đại học sư phạm phải đi cùng, đi trước phổ thông.
Bởi vậy, công việc của những người thầy Khoa Văn không dừng lại ở giảng đường đại học. Nhiều thế hệ cán bộ giảng dạy đã giữ vai trò chủ chốt trong xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa phổ thông; nhiều người là Tổng chủ biên, Chủ biên, tác giả sách giáo khoa qua các giai đoạn phát triển của giáo dục nước nhà.

Hội thảo quốc gia Kí hiệu học 2016
Trong nghiên cứu khoa học, nhiều thế hệ nhà khoa học của Khoa đã mở những hướng nghiên cứu và giảng dạy mới: phương pháp dạy học theo loại thể, loại hình học trong nghiên cứu văn học, thi pháp học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học, nghiên cứu tác giả trong mối quan hệ nhà văn - tư tưởng - phong cách... Trong 75 năm, Khoa có 24 giáo sư, 47 phó giáo sư và nhiều chuyên gia đầu ngành. Từ Khoa Ngữ văn cũng trưởng thành nhiều nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ như Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Ma Văn Kháng, Tô Nhuận Vỹ, Dương Thụ...
Khoa có 15 người được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, 31 người được phong tặng Nhà giáo Ưu tú; các nhà khoa học của Khoa đã được trao 4 Giải thưởng Hồ Chí Minh và 11 Giải thưởng Nhà nước.
Nhưng sự giàu có của một khoa đại học không chỉ ở những con số và danh hiệu.

Tập thể cán bộ Khoa trước Nhà Hiệu bộ
Toàn bộ số tiền Giải thưởng Hồ Chí Minh của nhà văn Nguyễn Tuân đã trở thành nguồn vốn ban đầu cho Quỹ học bổng Nguyễn Tuân dành cho sinh viên xuất sắc. Tiền Giải thưởng Hồ Chí Minh của GS Lê Trí Viễn được dành cho những sinh viên nghèo vượt khó, học giỏi. Từ thành quả lao động khoa học của GS Bùi Văn Ba, GS Đỗ Hữu Châu, GS Nguyễn Ngọc San... cũng hình thành những giải thưởng dành cho nghiên cứu sinh, sinh viên, học viên.
Các học bổng, giải thưởng ấy là kết quả của trí tuệ khoa học, tài năng văn chương và tấm lòng dành cho thế hệ trẻ. Trí tuệ, tài năng, tấm lòng làm nên sự giàu có của Khoa Ngữ văn, một sự giàu có không nhất thời mà lâu dài, bền vững.
Giữ cái "sâu và tinh" trên con đường mới

Bảo vệ luận án tiến sĩ cấp Bộ tại Khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Hội thảo khoa học Giáo sư Bùi Văn Nguyên với sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo
Bảy mươi lăm năm là một chặng đường dài. Truyền thống có sức mạnh, có nội lực của truyền thống. Nhưng nhìn lại một con đường lớn cũng cần nhìn rõ những thử thách trên chặng đường phía trước.
Hiện nay, Khoa Ngữ văn đang ở một giai đoạn thiếu hụt về đội ngũ cán bộ giảng dạy. So với 15 năm trước, số cán bộ giảng dạy giảm hơn một phần ba; số cán bộ mới được bổ sung chưa đủ bù đắp những người nghỉ hưu, thuyên chuyển công tác.
Khoa hiện có 48 cán bộ giảng dạy, trong đó có 1 GS.TS, 16 PGS.TS, 22 TS. Số lượng cán bộ giảm trong khi công việc đào tạo và nghiên cứu khoa học nhìn chung không giảm. Số học viên cao học trung bình hằng năm vẫn khoảng 200 người. Đặc biệt, số sinh viên tăng gấp đôi: từ năm học 2021-2022 đến nay, trung bình mỗi năm có khoảng 480 sinh viên nhập học. Điều đó tạo áp lực lớn lên đội ngũ cán bộ giảng dạy của Khoa.
Nhưng thử thách không chỉ nằm ở số lượng người dạy.
Khoa Ngữ văn là một khoa chuyên về sư phạm, chủ yếu đào tạo giáo viên Ngữ văn; giảng dạy và nghiên cứu khoa học tập trung vào văn học và ngôn ngữ. Cái mạnh của chuyên là sâu và tinh. Tuy nhiên, chuyên cũng dễ nảy sinh hạn chế, chỉ chú ý sâu nên có khi thành hẹp, thạo thâm canh mà ngại quảng canh, tính linh hoạt thích ứng với sự thay đổi của môi trường chưa thật cao.
Cái mạnh của “sâu và tinh” vì thế cũng đặt người Khoa Văn trước một đòi hỏi tự đổi mới.

Sinh viên về dự Lễ kỉ niệm 65 năm thành lập Khoa
Nhu cầu cập nhật, hiện đại hóa kiến thức, vận dụng những tiến bộ của công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo vào giảng dạy ngày càng trở nên bức thiết. Thời đại kỹ thuật số đem đến những thuận lợi nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thử thách đối với khoa học xã hội nói chung, ngành Ngữ văn nói riêng. Xu hướng hội nhập với khu vực và thế giới cũng đang tác động mạnh mẽ tới đào tạo và nghiên cứu.
Phải giữ chuyên ngành, phải mạnh về chuyên ngành, Khoa Ngữ văn mới giữ được chiều sâu và vị trí của mình trong đào tạo giáo viên Ngữ văn, trong nghiên cứu văn học và ngôn ngữ. Nhưng giữ cái “sâu và tinh” không có nghĩa là để sâu thành hẹp; thạo “thâm canh” cũng không thể ngại “quảng canh”.
Để thích ứng và tiếp tục phát triển, Khoa cần kết hợp giữa chuyên ngành và đa ngành, đa dạng hóa đào tạo, đồng thời tiếp tục phương châm kết hợp giữa đào tạo và nghiên cứu khoa học. Những hướng nghiên cứu về đặc trưng loại thể văn học, so sánh văn học - văn hóa, nghiên cứu liên ngành, văn học ứng dụng; sự phát triển của hệ cử nhân Văn học, chương trình lưỡng quốc cử nhân Việt Nam - Hàn Quốc... đang mở rộng thêm không gian đào tạo và nghiên cứu.
Một nhiệm vụ khác là nâng cao đồng thời trình độ chuyên ngành, ngoại ngữ và khả năng vận dụng công nghệ thông tin, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo. Người giảng viên Ngữ văn cần có trình độ cao về khoa học chuyên ngành, giỏi ngoại ngữ, thành thạo trong việc vận dụng công nghệ mới, tạo nên một “thế đứng chân kiềng, chân vạc” vững chãi.
Một trong những phương hướng lớn của Khoa là nâng tầm Khoa lên thành Trường, vừa mở thêm mã ngành đào tạo, vừa liên ngành với một số khoa thuộc khối khoa học xã hội để phát triển xứng tầm với kỷ nguyên mới của đất nước và của giáo dục Việt Nam.
Bảy mươi lăm năm trước, con đường ấy bắt đầu từ những “giảng đường” tranh tre, những chiếc bàn gỗ chỉ rộng chừng hai tờ giấy A4, những ngọn đèn dầu có khi được làm từ lọ thuốc penicillin cũ. Bảy mươi lăm năm sau, người Khoa Văn đang đi tiếp con đường của mình trong một thế giới của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, hội nhập và những miền tri thức ngày càng rộng mở.
Con đường lớn vẫn rộng mở về phía trước. Giữ được cái sâu và tinh của chuyên ngành nhưng không để sâu thành hẹp; giữ được nội lực của truyền thống nhưng không bằng lòng với những gì đã có; biết “thâm canh” mà cũng biết “quảng canh” - đó là cách để những thế hệ người Khoa Văn hôm nay tiếp tục đi xa trên con đường đã được các thế hệ đi trước mở ra và dựng xây.
Hà Nội, mùa Thu 2026
Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/khoa-ngu-van-75-nam-tren-mot-con-duong-lon-post992624.html

