Từ phong trào thể thao đến một 'quốc gia vận động'

Trong nhiều năm, khi nói về thể dục, thể thao quần chúng, chúng ta khá quen với những con số về tỉ lệ người tập luyện thường xuyên, số gia đình thể thao, câu lạc bộ hay các giải đấu phong trào. Những chỉ số ấy cần thiết, bởi chúng phản ánh mức độ lan tỏa của hoạt động thể thao trong cộng đồng. Nhưng yêu cầu chuyển mạnh từ “phát triển phong trào thể thao” sang xây dựng một “quốc gia vận động” được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra tại buổi làm việc ngày 2.10.2026 gợi mở một cách tiếp cận rộng hơn: thể thao không còn chỉ là một lĩnh vực cần phát triển, mà vận động thể chất cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống xã hội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Bộ VHTTDL, các cơ quan liên quan vào chiều 2.10.2026

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Bộ VHTTDL, các cơ quan liên quan vào chiều 2.10.2026

Điểm xuất phát của tư duy ấy nằm trong một nhận định đáng chú ý: sức khỏe và thể lực của người dân là một bộ phận của sức mạnh quốc gia. Từ đó, phát triển thể dục, thể thao được đặt trong chiến lược phát triển con người, chất lượng dân số và nguồn nhân lực của đất nước, thay vì chỉ giới hạn trong phạm vi một hoạt động văn hóa - xã hội. Đây không đơn thuần là thay đổi một cách diễn đạt. Khi vị trí của thể dục, thể thao được nhìn nhận khác đi, cách thiết kế chính sách cũng phải thay đổi tương ứng.

Từ “có người tập thể thao” đến một xã hội tạo điều kiện để con người vận động

“Phong trào thể thao” thường được nhận diện thông qua hoạt động: một cuộc chạy, một giải đấu, một câu lạc bộ, một đợt vận động hay một chương trình được tổ chức. “Quốc gia vận động” lại phải được nhận diện bằng lối sống. Khác biệt căn bản nằm ở đó.

Một người có thể tham dự một ngày chạy cộng đồng với hàng nghìn người nhưng phần lớn thời gian còn lại vẫn ngồi nhiều giờ trước máy tính, di chuyển hoàn toàn bằng phương tiện cơ giới và ít vận động. Một trường học có thể hoàn thành đầy đủ số tiết giáo dục thể chất nhưng học sinh vẫn thiếu sân chơi, thiếu hoạt động thể thao ngoài giờ. Một khu đô thị có thể hiện đại về kiến trúc, tiện nghi nhưng nếu thiếu công viên, đường đi bộ, sân tập và không gian công cộng thì rất khó hình thành thói quen vận động thường xuyên.

Bởi vậy, trong phát biểu chỉ đạo, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặt thể thao học đường, điều kiện sân bãi, thiết bị, giáo viên; không gian vận động tại khu công nghiệp, khu đô thị, khu dân cư mới và hiệu quả sử dụng các thiết chế thể thao công trong cùng một hệ quy chiếu. Đáng chú ý là yêu cầu không gian vận động phải được tính đến trong quy hoạch “như một bộ phận của chất lượng sống”; đồng thời phải khắc phục tình trạng nơi thiếu chỗ tập luyện trong khi tài sản công trên cùng địa bàn chưa được khai thác hết công suất.

Ở đây xuất hiện một chuyển dịch rất đáng suy nghĩ: từ vận động người dân tập luyện sang kiến tạo điều kiện để người dân có thể vận động. Hai cách tiếp cận ấy không giống nhau. Kêu gọi thuộc về tuyên truyền; kiến tạo liên quan tới quy hoạch, cơ sở vật chất, trường học, môi trường làm việc, giao thông, thiết chế công cộng và cách tổ chức đời sống.

Không thể đòi hỏi một đứa trẻ hình thành tình yêu với vận động nếu trường học hầu như không có sân chơi. Khó khuyến khích công nhân tập luyện thường xuyên nếu sau tám giờ làm việc, xung quanh nơi ở không có một khoảng không gian thích hợp. Cũng khó hình thành thói quen đi bộ, chạy bộ, đạp xe nếu cấu trúc đô thị khiến những lựa chọn ấy trở nên bất tiện hoặc thiếu an toàn. Vì vậy, một “quốc gia vận động” trước hết phải là một quốc gia trong đó quyền được vận động được hỗ trợ bằng những điều kiện thực tế để vận động.

Khi thiếu vận động trở thành một vấn đề phát triển

Câu chuyện càng đáng lưu ý khi thiếu vận động đang trở thành vấn đề sức khỏe mang tính toàn cầu.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), khoảng 31% người trưởng thành trên thế giới, tương đương khoảng 1,8 tỉ người, chưa đạt mức vận động thể chất được khuyến nghị; ở thanh thiếu niên, tỉ lệ không đạt mức vận động khuyến nghị vào khoảng 80%. Nếu xu hướng này không thay đổi, WHO ước tính tình trạng thiếu vận động có thể gây ra khoảng 300 tỉ USD chi phí cho các hệ thống y tế công trong giai đoạn 2020-2030, chưa kể những thiệt hại gián tiếp về năng suất lao động. 

Bởi vậy, vận động thể chất khó còn được nhìn đơn thuần như sở thích cá nhân.

Đằng sau một xã hội ít vận động là nguy cơ gia tăng bệnh không lây nhiễm, chi phí y tế và suy giảm chất lượng sống. Ngược lại, một xã hội trong đó vận động trở thành thói quen sẽ tạo ra những lợi ích vượt khỏi phạm vi thể thao: sức khỏe tốt hơn, chất lượng nguồn nhân lực cao hơn và giảm áp lực đối với hệ thống y tế.

Điều đó lý giải vì sao nhận định “sức khỏe và thể lực của người dân là một bộ phận của sức mạnh quốc gia” có thể được hiểu theo nghĩa rộng hơn câu chuyện thể thao. Nó liên quan trực tiếp đến chất lượng con người - nguồn lực quan trọng của phát triển.

Muốn thay đổi, trước hết phải biết chúng ta đang ở đâu

Một nội dung có ý nghĩa đặc biệt trong chỉ đạo lần này là yêu cầu nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số về thể lực, mức độ vận động và khả năng tiếp cận thể dục, thể thao, trước hết đối với trẻ em, học sinh, người lao động và người cao tuổi. Cùng với đó là yêu cầu phải xác định được nhóm dân cư nào đang thiếu vận động, địa bàn nào thiếu điều kiện tập luyện và yếu tố nào đang cản trở người dân duy trì vận động thường xuyên.

Đây là sự chuyển dịch đáng chú ý từ quản lý theo số lượng hoạt động sang quản trị dựa trên dữ liệu và kết quả. Nếu chỉ hỏi một địa phương đã tổ chức bao nhiêu giải thể thao, thành lập bao nhiêu câu lạc bộ hay có bao nhiêu người đăng ký tham gia phong trào, rất dễ tạo ra những con số đẹp. Nhưng những con số ấy chưa chắc trả lời được câu hỏi quan trọng hơn: người dân có thực sự vận động nhiều hơn và khỏe hơn hay không?

Cần những thước đo khác.

Tỉ lệ trẻ em vận động đủ mỗi ngày là bao nhiêu? Người lao động dành bao nhiêu thời gian cho hoạt động thể chất? Người cao tuổi có thể tiếp cận điểm tập luyện trong khoảng cách thuận tiện hay không? Khoảng cách về cơ hội vận động giữa đô thị và nông thôn, giữa các khu vực và các nhóm dân cư ra sao?

Khi dữ liệu đủ cụ thể, chính sách mới có thể đi đúng địa chỉ.

Một khu vực thiếu sân chơi cần giải pháp về thiết chế. Người lao động thiếu vận động do đặc thù thời gian làm việc cần một cách tổ chức khác. Học sinh ít vận động cần được xử lý đồng thời từ chương trình học, sân trường và hoạt động ngoại khóa. Người cao tuổi lại cần không gian và phương thức tập luyện phù hợp với thể trạng.

Tinh thần ấy cũng tương thích với Kế hoạch triển khai Kết luận số 70-KL/TW của Bộ Chính trị. Kế hoạch đặt ra yêu cầu khuyến khích người dân hình thành thói quen rèn luyện thể chất thường xuyên; mở rộng mạng lưới thiết chế thể thao cơ sở; bảo đảm công bằng trong tham gia và thụ hưởng hoạt động thể dục, thể thao; đồng thời đổi mới giáo dục thể chất, phát triển thể thao trường học và tăng cường điều kiện cơ sở vật chất. 

Khi vận động trở thành một phần của văn hóa sống

Có lẽ chiều sâu đáng chú ý nhất của khái niệm “quốc gia vận động” nằm ở chỗ nó không thể được tạo ra bởi riêng ngành thể thao.

Ngành văn hóa, thể thao và du lịch có thể xây dựng chính sách; ngành giáo dục có thể thúc đẩy thể thao học đường; ngành y tế có thể theo dõi thể lực và khuyến cáo vận động. Nhưng một xã hội vận động còn liên quan tới quy hoạch đô thị, giao thông, công viên, nhà ở, khu công nghiệp, trường học, văn hóa công sở và cách mỗi gia đình tổ chức đời sống.

Nếu một đô thị muốn người dân đi bộ nhưng vỉa hè không thuận tiện cho người đi bộ, chính sách và thực tế sẽ khó gặp nhau. Nếu trường học coi trọng giáo dục thể chất nhưng sân chơi ngày càng bị thu hẹp, mục tiêu khó trở thành kết quả. Nếu người lao động được khuyến khích rèn luyện nhưng điều kiện làm việc và không gian sinh hoạt không tạo ra cơ hội vận động, lời kêu gọi cũng khó hình thành thói quen.

Một “quốc gia vận động”, vì thế, cuối cùng phải được nhìn thấy trong những điều rất đời thường: trẻ em được chạy nhảy mỗi ngày; người trưởng thành có thể đi bộ hoặc chơi một môn thể thao gần nơi ở; công nhân có không gian tập luyện sau giờ làm; người cao tuổi có nơi vận động an toàn; trường học và thiết chế thể thao công được khai thác hiệu quả hơn; công viên, đường đi bộ, sân chơi được nhìn nhận như một phần của hạ tầng phục vụ sức khỏe cộng đồng.

Khi ấy, thể thao không bắt đầu từ sân vận động và cũng không kết thúc sau một giải đấu. Nó hiện diện trong nhịp sống hằng ngày.

Và có lẽ cách đánh giá thành công của thể thao quần chúng cũng cần được nhìn sâu hơn. Một giải chạy với hàng nghìn người tham gia có thể tạo ra hiệu ứng xã hội tích cực. Nhưng ý nghĩa dài hạn nằm ở một câu hỏi khác: sau cuộc chạy ấy, bao nhiêu người tiếp tục chạy vào ngày hôm sau, tuần sau và những năm sau?

Bởi đích đến không nằm ở việc tạo ra thật nhiều sự kiện vận động, mà ở khả năng tạo ra con người có thói quen vận động.

Từ “phát triển phong trào thể thao” đến xây dựng một “quốc gia vận động”, vì vậy, có thể hiểu là bước chuyển từ tổ chức hoạt động sang hình thành lối sống; từ đếm số người tham gia sang quan tâm chất lượng thể lực; từ xây thêm một sân tập sang kiến tạo môi trường sống thuận lợi cho vận động; từ trách nhiệm của riêng ngành thể thao sang bài toán phối hợp của nhiều lĩnh vực.

Khi sức khỏe và thể lực được đặt trong tương quan với sức mạnh quốc gia, câu chuyện người dân có vận động mỗi ngày hay không cũng vượt ra khỏi phạm vi một thói quen cá nhân. Đó trở thành một vấn đề của chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực và năng lực phát triển dài hạn của đất nước.

DUY PHONG

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/chinh-tri/tu-phong-trao-the-thao-den-mot-quoc-gia-van-dong-271016.html