Khơi dậy tiềm năng, nâng tầm công nghiệp nông thôn
Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lĩnh vực công nghiệp nông thôn đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Tuy nhiên, để lĩnh vực này phát triển bền vững, thích ứng với xu thế chuyển đổi số và hội nhập kinh tế quốc tế, rất cần những “đòn bẩy” thiết thực từ cơ chế, chính sách hỗ trợ. Chương trình khuyến công quốc gia chính là một trong những động lực quan trọng góp phần khơi dậy tiềm năng, nâng tầm công nghiệp nông thôn trong giai đoạn hiện nay.
“Bà đỡ” cho các sản phẩm công nghiệp nông thôn vươn xa
Việt Nam hiện có hàng nghìn làng nghề truyền thống cùng hàng chục nghìn cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, hoạt động trong nhiều lĩnh vực như chế biến nông sản, thủ công mỹ nghệ, cơ khí, dệt may, gốm sứ... Đây được xem là khu vực giàu tiềm năng, góp phần tạo việc làm, giữ gìn bản sắc văn hóa và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Những năm gần đây, nhờ sự hỗ trợ từ các chương trình khuyến công cùng tinh thần chủ động đổi mới, nhiều cơ sở công nghiệp nông thôn đã mạnh dạn cải tiến công nghệ, đổi mới mẫu mã, từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

Sự hỗ trợ kịp thời từ Chương trình khuyến công quốc gia đã giúp Công ty TNHH Sản xuất gạch không nung Vĩnh Long Phước mạnh dạn đầu tư, đổi mới công nghệ. Ảnh: HOÀNG DƯƠNG
Có thể kể đến hiệu quả của Đề án “Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất gạch không nung” tại Công ty TNHH Sản xuất gạch không nung Vĩnh Long Phước (Vĩnh Long) từ chương trình khuyến công quốc gia năm 2025. Nhờ tổng kinh phí 660 triệu đồng (trong đó nguồn kinh phí khuyến công quốc gia hỗ trợ 300 triệu đồng), doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền sản xuất gạch không nung bán tự động gồm máy ép, máy trộn, băng tải, hệ thống đồng bộ. Việc ứng dụng công nghệ mới giúp doanh nghiệp ghi nhận năng suất tăng, chi phí giảm, sản phẩm đồng đều hơn; đặc biệt, điều kiện lao động được cải thiện và rủi ro tai nạn giảm. Theo bà Trần Nhụy Lan Thảo, Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất gạch không nung Vĩnh Long Phước, chính sự hỗ trợ từ chương trình khuyến công đã giúp đơn vị mạnh dạn đầu tư dây chuyền máy móc hiện đại, qua đó tạo ra bước chuyển biến rõ rệt, giúp sản xuất hiệu quả hơn và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Đây chỉ là một trong số những đơn vị tiêu biểu được thụ hưởng chính sách hỗ trợ từ chương trình khuyến công. Giai đoạn 2021-2025, trong bối cảnh nhiều khó khăn như đại dịch Covid-19, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng cao, Chương trình khuyến công quốc gia giai đoạn 2021-2025 theo Quyết định số 1881/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 20-11-2020 đã phát huy hiệu quả rõ nét, góp sức hỗ trợ nhiều cơ sở trụ vững, từng bước phục hồi. Tổng kinh phí khuyến công cả nước được phê duyệt đạt 1.436 tỷ đồng, trong đó kinh phí khuyến công quốc gia chiếm 36,6%, còn lại là nguồn lực từ các địa phương. Đáng chú ý, tổng vốn đối ứng của doanh nghiệp và cơ sở công nghiệp nông thôn lên tới gần 1.525 tỷ đồng, cho thấy khả năng lan tỏa và thu hút đầu tư xã hội cao. Bên cạnh đó, chương trình đã hỗ trợ 883 cơ sở ứng dụng máy móc, chuyển giao công nghệ, xây dựng 52 mô hình trình diễn kỹ thuật, giúp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Song song với đó, hoạt động phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu tiếp tục được đẩy mạnh với hơn 1.400 sản phẩm được tôn vinh, mở rộng cơ hội quảng bá và thị trường tiêu thụ. Bên cạnh hỗ trợ sản xuất, hơn 1.500 lượt cơ sở đã được đào tạo, tư vấn về quản trị, ISO, Kaizen, sản xuất sạch hơn, chuyển đổi số, góp phần thay đổi tư duy sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh dài hạn.
Có thể thấy, khuyến công thời gian qua đã phát huy được vai trò “bà đỡ” giúp các cơ sở công nghiệp nông thôn tiếp cận khoa học-công nghệ, đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh, giúp công nghiệp nông thôn từng bước phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững. Tuy nhiên, phía sau những kết quả tích cực vẫn còn nhiều khó khăn khiến tiềm năng khu vực này chưa được khai thác tương xứng.
Khơi thông nguồn lực cho công nghiệp nông thôn phát triển
Thực tế cho thấy, phần lớn cơ sở công nghiệp nông thôn có quy mô nhỏ và vừa, năng lực tài chính hạn chế, gây khó khăn cho việc mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và xây dựng thương hiệu. Vấn đề mặt bằng sản xuất cũng là điểm nghẽn lớn khi nhiều cơ sở hoạt động xen kẽ trong khu dân cư, quy mô nhỏ lẻ, thiếu điều kiện xử lý môi trường, mở rộng nhà xưởng, làm giảm hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh.
Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập, các cơ sở công nghiệp nông thôn còn phải cạnh tranh với sản phẩm công nghiệp hiện đại, hàng nhập khẩu. Dù có lợi thế về tính thủ công và giá trị văn hóa, nhiều sản phẩm vẫn chưa tạo được dấu ấn do hạn chế về thiết kế, bao bì và khả năng tiếp cận thị trường. Không ít doanh nghiệp vẫn phụ thuộc kênh bán hàng truyền thống, chưa tận dụng tốt thương mại điện tử và nền tảng số, trong khi việc xây dựng thương hiệu còn manh mún, thiếu nhận diện. Ngoài ra, nguồn nhân lực cũng là thách thức lớn khi lao động trẻ ít gắn bó với nghề truyền thống do thu nhập chưa ổn định và điều kiện làm việc còn hạn chế, tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt lao động nếu không có giải pháp đào tạo và thu hút phù hợp.
Về hoạt động khuyến công, bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy chương trình khuyến công vẫn còn một số hạn chế như: Nguồn lực hỗ trợ còn mỏng; đội ngũ cán bộ khuyến công còn thiếu và chủ yếu kiêm nhiệm, trong khi công tác tuyên truyền chưa sâu rộng đến các cơ sở vùng xa.
Từ thực tế này, theo bà Nguyễn Thị Lâm Giang, Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, trong giai đoạn 2026-2030, hoạt động khuyến công không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ thiết bị, mô hình, mà phải góp phần thúc đẩy tái cơ cấu sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và cơ sở công nghiệp nông thôn, tạo sinh kế bền vững cho người dân nông thôn, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước trong giai đoạn mới. Theo đó, trong năm 2026, các hoạt động khuyến công sẽ được triển khai có trọng tâm, trọng điểm, bám sát lợi thế từng vùng, đồng thời đồng bộ với chính sách về đất đai, tín dụng, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. Các định hướng như sản xuất sạch hơn, tiêu dùng bền vững, chuyển đổi số sẽ tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần phát triển kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Bên cạnh đó, chương trình sẽ tăng cường bình chọn và hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu sau công nhận, thúc đẩy thu hút đầu tư vào khu vực nông thôn, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, quản trị, nâng cao năng suất, chất lượng và mở rộng thị trường thông qua tận dụng các hiệp định thương mại tự do.
Về phía doanh nghiệp, song song với chính sách hỗ trợ từ Nhà nước, cũng phải thay đổi mạnh mẽ để thích ứng với yêu cầu phát triển mới. Tư duy sản xuất nhỏ lẻ, manh mún cần được thay thế bằng mô hình sản xuất chuyên nghiệp, có chiến lược dài hạn và gắn với thị trường. Trong đó, điều quan trọng hiện nay không chỉ là làm ra sản phẩm tốt mà còn phải kể được “câu chuyện văn hóa” của sản phẩm. Khi kết hợp được giá trị truyền thống với công nghệ hiện đại, sản phẩm công nghiệp nông thôn Việt Nam hoàn toàn có cơ hội chinh phục các thị trường quốc tế khó tính.
Việt Nam có lợi thế đặc biệt với hệ thống làng nghề phong phú, truyền thống lâu đời và đội ngũ nghệ nhân tài hoa. Khi những “nút thắt” về cơ chế, vốn, công nghệ, thương hiệu được tháo gỡ, tiềm năng của các cơ sở công nghiệp nông thôn sẽ không chỉ dừng lại ở việc “khơi dậy” mà thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững cho kinh tế nông thôn Việt Nam. Do vậy, để công nghiệp nông thôn thực sự trở thành động lực tăng trưởng cho kinh tế nông thôn, cần có sự vào cuộc đồng bộ từ Nhà nước, hiệp hội ngành nghề và chính bản thân cơ sở công nghiệp nông thôn.











