Khơi lại 'dòng chảy môi trường' từ những dòng sông chết

Hà Nội đang triển khai hàng loạt các giải pháp nhằm xử lý “điểm nghẽn” môi trường, trong đó có phục hồi hệ sinh thái sông. Việc cải tạo các dòng sông không chỉ với mục tiêu cải thiện chất lượng nguồn nước mà quan trọng hơn là khơi lại “dòng chảy môi trường”. Từ đó phát huy giá trị của hệ sinh thái sông, mở ra dư địa phát triển kinh tế, du lịch, không gian xanh và nâng cao chất lượng sống của người dân Thủ đô.

Hà Nội đang triển khai Dự án cải tạo tuyến hạ lưu sông Kim Ngưu nối sông Tô Lịch. Ảnh: Đạt Lê.

Hà Nội đang triển khai Dự án cải tạo tuyến hạ lưu sông Kim Ngưu nối sông Tô Lịch. Ảnh: Đạt Lê.

Quyết tâm hồi sinh dòng chảy

Thực tế, không nhiều đô thị sở hữu hệ thống sông ngòi phong phú như Hà Nội. Các dòng sông không chỉ đảm nhận chức năng tiêu thoát nước mà còn là cốt lõi hệ sinh thái, tạo nên bản sắc của đô thị ngàn năm văn hiến. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh, gia tăng dân số cơ học và sức ép hạ tầng khiến nhiều dòng sông trở thành nơi tiếp nhận nước thải sinh hoạt và sản xuất. Tình trạng ô nhiễm kéo dài đã làm tổn hại môi trường, làm mất đi giá trị cảnh quan, cản trở sự phát triển bền vững của thành phố.

Theo đánh giá của cơ quan chức năng Hà Nội, nguyên nhân không chỉ nằm ở lượng nước thải ngày càng gia tăng mà còn xuất phát từ hệ thống thu gom, xử lý nước thải chưa đồng bộ; phương thức quản lý vẫn chủ yếu theo địa giới hành chính thay vì quản lý theo lưu vực; việc khai thác không gian hai bên sông chưa gắn với quy hoạch phát triển đô thị hiện đại…

Nhận diện đúng “điểm nghẽn” cũng là tiền đề để Hà Nội lựa chọn hướng đi phù hợp. Thành phố đang đồng thời triển khai các dự án cải tạo 4 dòng sông gồm: Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ và Sét. Đối với sông Cầu Bây, thành phố từng bước xây dựng hệ thống thu gom nước thải, đầu tư 5 nhà máy xử lý nước thải dọc tuyến, đồng thời cải tạo cảnh quan hai bên bờ. Điểm đáng chú ý, các dự án không còn đặt mục tiêu đơn thuần xử lý ô nhiễm mà hướng đến tái thiết toàn diện không gian ven sông, hình thành các hành lang xanh, kết nối giao thông, cảnh quan và các hoạt động văn hóa - dịch vụ, tạo động lực phát triển đô thị.

Quyết tâm của Hà Nội cũng thể hiện qua Dự án xây dựng, tu bổ xung yếu hệ thống đê điều, nạo vét và xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ vừa được HĐND TP Hà Nội thông qua với tổng mức đầu tư hơn 75.000 tỷ đồng. Dự án dự kiến triển khai giai đoạn 2026-2029 trên toàn tuyến sông Nhuệ từ cống Liên Mạc đến hết địa phận Hà Nội, đi qua 19 xã, phường. Không chỉ giải quyết ô nhiễm, công trình còn hướng tới hoàn thiện hệ thống thu gom nước thải tập trung, nâng cao năng lực tiêu thoát nước, chỉnh trang cảnh quan và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực ven sông.

Là người gắn bó hơn 40 năm với khu vực ven sông Nhuệ, ông Phạm Anh Tuấn (đường Cầu Bươu) cho biết nhiều năm qua, dòng sông luôn trong tình trạng ô nhiễm nặng, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của người dân. Dù một số đoạn đã được kè bờ và cảnh quan có chuyển biến tích cực, song việc xử lý triệt để ô nhiễm vẫn là mong mỏi của người dân. “Kỳ vọng lớn nhất là dự án được triển khai đồng bộ để dòng sông thực sự hồi sinh, môi trường sống được cải thiện và người dân được hưởng bầu không khí trong lành”, ông Tuấn chia sẻ.

Song song với dự án sông Nhuệ, Hà Nội cũng đang đẩy nhanh tiến độ cải tạo tuyến hạ lưu sông Kim Ngưu nối sông Tô Lịch. Sau hơn nửa năm thi công, các hạng mục chính như kè hai bờ, nạo vét lòng sông và xử lý các điểm nghẽn dòng chảy đã cơ bản hoàn thành, góp phần nâng cao khả năng tiêu thoát nước và cải thiện cảnh quan khu vực phía Nam thành phố.

Trong chuỗi công trình cải thiện môi trường nước, Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá được xem là hạ tầng trọng yếu. Với công suất thiết kế 270.000m3 mỗi ngày đêm, nhà máy sẽ tiếp nhận phần lớn nước thải từ lưu vực sông Tô Lịch, Lừ, Sét và một phần sông Nhuệ trước khi xử lý, góp phần giảm đáng kể lượng nước thải xả trực tiếp ra môi trường.

Đồng bộ giải pháp, khơi thông nguồn lực tài nguyên

Hồi sinh các dòng sông không chỉ là bài toán môi trường mà còn là câu chuyện về tái tạo nguồn lực phát triển đô thị. Một dòng sông ô nhiễm sẽ kéo theo hàng loạt hệ lụy, làm suy giảm giá trị du lịch, văn hóa, nông nghiệp sạch và gia tăng nhiều chi phí xã hội như y tế, xử lý ô nhiễm hay khắc phục sự cố môi trường. Ngược lại, khi dòng sông được hồi sinh, những giá trị kinh tế mới sẽ được hình thành. Không gian ven sông trở thành điểm đến của các hoạt động văn hóa, du lịch, thể thao; giá trị bất động sản xanh được nâng lên; nông nghiệp sinh thái và các mô hình kinh tế tuần hoàn có điều kiện phát triển. Đây cũng là nguồn lực quan trọng để Hà Nội xây dựng một đô thị có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao sức cạnh tranh.

GS.TS Trần Đức Hạ, giảng viên cao cấp Trường Đại học Xây dựng Hà Nội nhận định, cải tạo các dòng sông không nên chỉ dừng ở việc làm sạch nước mà phải phục hồi “dòng chảy môi trường”, trong đó, khôi phục cả chất lượng và lưu lượng nước, đồng thời khai thác hiệu quả giá trị của dòng sông đối với phát triển du lịch, kinh tế và không gian công cộng.

Nhấn mạnh các yếu tố để hồi sinh những dòng sông nội đô, theo ông Hạ, ưu tiên hàng đầu vẫn là hoàn thiện hệ thống thu gom và xử lý nước thải, xây dựng các trạm bơm đầu mối vừa chống ngập, vừa bổ cập nguồn nước cho sông trong mùa khô. Sau đó mới triển khai đồng bộ các giải pháp nạo vét, xử lý bùn đáy và cải tạo lòng sông theo hướng khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này.

Ở góc độ quản lý, bà Nguyễn Phương Dung - Phó Trưởng phòng Khoáng sản, Tài nguyên nước (Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội) cho rằng việc giải quyết ô nhiễm các dòng sông đang đối mặt với nhiều thách thức. Hiện hệ thống thu gom nước thải của Hà Nội chủ yếu vẫn là hệ thống chung giữa nước mưa và nước thải. Nhiều công trình đã xuống cấp, quá tải trước tốc độ đô thị hóa nhanh, trong khi nguy cơ cạn kiệt dòng chảy ngày càng rõ.

Bên cạnh đó, việc phục hồi các dòng sông đòi hỏi nguồn lực đầu tư rất lớn. Ngoài ngân sách nhà nước, nguồn vốn ODA và xã hội hóa, Hà Nội đang từng bước mở rộng các dự án theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu lâu dài vẫn cần thêm các cơ chế huy động nguồn lực đủ mạnh. Một vấn đề khác là cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước hiện còn phân tán giữa các ngành và địa phương, gây khó khăn cho công tác giám sát, cảnh báo cũng như quản lý theo lưu vực sông. Vì vậy, tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng sẽ là yếu tố quyết định hiệu quả của quá trình phục hồi. “Sự thay đổi nhận thức cộng đồng cũng giữ vai trò rất quan trọng. Khi người dân cùng hệ thống chính trị coi các dòng sông là tài sản chung, cùng chung tay bảo vệ và có trách nhiệm với không gian công cộng thì các dòng sông mới thực sự được hồi sinh”- bà Dung nói.

Theo GS.TS Trần Đức Hạ, về lâu dài Hà Nội cần xây dựng chiến lược quản lý bền vững tài nguyên nước, trong đó xác định rõ vai trò của hệ thống sông nội đô đối với sự phát triển của Thủ đô. Bên cạnh các dòng sông lớn như sông Hồng, cần đưa các dòng sông nội đô: sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét, sông Kim Ngưu đến sông Nhuệ, Cầu Bây vào chiến lược quản lý, bảo vệ và phục hồi lâu dài. Đây sẽ là nền tảng để phát huy giá trị sinh thái, cảnh quan và bảo đảm sự phát triển bền vững của Hà Nội.

Đạt Lê

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/khoi-lai-dong-chay-moi-truong-tu-nhung-dong-song-chet.html