Khơi thông nguồn lực đất đai và vai trò của kiểm toán nhà nướcBài cuối: Để đất đai trở thành nguồn lực chiến lược

Hàng nghìn dự án đình trệ cho thấy một nguồn lực đất đai rất lớn vẫn chưa được khai thác hiệu quả, trong khi yêu cầu tăng trưởng đang đặt ra cấp thiết. Khơi thông nguồn lực này không chỉ là xử lý các dự án tồn đọng, mà còn đòi hỏi hoàn thiện thể chế, đổi mới quản trị và nâng cao hiệu lực thực thi. Trong tiến trình đó, Kiểm toán nhà nước (KTNN) cần tiếp tục phát huy vai trò cảnh báo, kiến nghị và phòng ngừa rủi ro, góp phần đưa đất đai trở thành nguồn lực chiến lược cho phát triển.

KTNN là lực lượng đồng hành quan trọng, góp phần đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, tạo động lực cho tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững của đất nước. Ảnh: TRẦN THIỆN

KTNN là lực lượng đồng hành quan trọng, góp phần đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, tạo động lực cho tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững của đất nước. Ảnh: TRẦN THIỆN

Gỡ điểm nghẽn từ thể chế

Thực tiễn hàng nghìn dự án chậm triển khai, kéo dài nhiều năm cho thấy, điểm nghẽn không nằm ở một thủ tục hay một khâu riêng lẻ, mà bắt nguồn từ những bất cập mang tính hệ thống. Sự thiếu đồng bộ giữa pháp luật về đất đai, đầu tư, quy hoạch, xây dựng, nhà ở, kinh doanh bất động sản và tài chính đất đai; cùng những tồn tại lịch sử chưa được xử lý dứt điểm đã khiến không ít dự án rơi vào tình trạng “đắp chiếu”, trong khi đất đai và vốn đầu tư chưa thể chuyển hóa thành nguồn lực cho phát triển.

Muốn khơi thông nguồn lực một cách căn cơ và bền vững, trước hết phải xây dựng hành lang pháp lý đồng bộ, minh bạch và khả thi. Đây không chỉ là yêu cầu tháo gỡ những vướng mắc trước mắt, mà quan trọng hơn là tạo lập một cơ chế vận hành nhất quán, chuyển từ tư duy “xử lý từng dự án” sang giải quyết những điểm nghẽn của cả hệ thống, để đất đai thực sự được đưa vào khai thác hiệu quả.

Tinh thần này được thể hiện trong Nghị quyết số 21-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Nghị quyết đặt yêu cầu tiếp tục hoàn thiện pháp luật đất đai theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi; đồng thời xử lý hiệu quả những điểm nghẽn trong quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, tài chính đất đai và giá đất.

Quản lý đất đai chặt chẽ, minh bạch, công bằng, hiệu quả, bền vững, đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, lợi thế cạnh tranh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới…

Trích Nghị quyết số 21-NQ/TW

Theo chuyên gia kinh tế PGS,TS. Ngô Trí Long, việc hoàn thiện Luật Đất đai cần được đặt trong tổng thể hoàn thiện các luật có liên quan. Bởi trên thực tế, một dự án có thể không vướng ở từng quy định riêng lẻ nhưng vẫn không thể triển khai nếu các quy định nằm ở những đạo luật khác nhau không kết nối được với nhau. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải xử lý những “điểm giao” của pháp luật, bảo đảm các khâu từ quy hoạch, đất đai, đầu tư, xây dựng đến tài chính có thể vận hành trong một chỉnh thể thống nhất.

Qua các cuộc kiểm toán chuyên đề giai đoạn 2023-2025, KTNN cũng chỉ ra rằng, chính sách, pháp luật về đất đai dù đã nhiều lần được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn những nội dung chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện và phối hợp giữa các cấp, các ngành. Từ thực tiễn kiểm toán, KTNN kiến nghị tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật về đất đai đồng bộ với hệ thống pháp luật liên quan; đồng thời hiện đại hóa quản lý đất đai trên nền tảng chuyển đổi số, xây dựng hệ thống thông tin đất đai thống nhất, kết nối Trung ương - địa phương, tích hợp các cơ sở dữ liệu nhằm nâng cao tính minh bạch của thông tin đất đai và bất động sản.

Đằng sau yêu cầu hoàn thiện thể chế là một sự thay đổi căn bản về tư duy: Từ quản lý đất đai sang quản trị nguồn lực đất đai. Theo bà Phạm Thị Miền - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu đánh giá thị trường bất động sản Việt Nam, hiệu quả sử dụng đất cần trở thành thước đo quan trọng của quản trị. Một dự án chỉ thực sự được tháo gỡ khi toàn bộ chuỗi từ quy hoạch, đất đai, tài chính đến triển khai đầu tư được xử lý đồng bộ. Nếu chỉ tháo một “nút” mà những khâu còn lại vẫn ách tắc, dòng chảy nguồn lực vẫn chưa thể được khơi thông.

Khơi thông từ khâu thực thi

Nếu thể chế tạo ra “đường ray” thì tổ chức thực hiện quyết định nguồn lực có thực sự vận động trên đường ray đó hay không.

Chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng, một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay nằm ở khâu thực thi tại địa phương. Sau nhiều vụ việc sai phạm về đất đai bị xử lý, tâm lý e ngại trách nhiệm, sợ sai ở một bộ phận cán bộ đã dẫn đến tình trạng chậm quyết định, kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ, ngay cả khi quy định và thẩm quyền xử lý đã tương đối rõ. Vì vậy, cùng với hoàn thiện thể chế cần có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; đồng thời phải xác định rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm tình trạng né tránh, đùn đẩy, làm chậm quá trình đưa nguồn lực vào phát triển.

Theo luật sư Phạm Thanh Tuấn, thời gian qua Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế đặc thù để xử lý các tồn tại lịch sử của các dự án bất động sản. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách cuối cùng vẫn phụ thuộc vào tổ chức thực hiện. Nếu cơ quan có thẩm quyền tiếp tục chờ đợi, xin ý kiến qua nhiều cấp, nhiều ngành thì những cơ chế được thiết kế để tháo gỡ vẫn có nguy cơ trở thành một tầng thủ tục mới.

Do đó, cần chuyển mạnh từ “có cơ chế” sang “cơ chế được thực thi”. Theo bà Phạm Thị Miền, mỗi dự án sau khi được phân loại cần có một lộ trình xử lý cụ thể, xác định rõ việc phải làm, cơ quan chịu trách nhiệm, thời hạn hoàn thành và kết quả đầu ra. Việc theo dõi, công khai hoặc báo cáo định kỳ tiến độ không chỉ giúp nhận diện sớm điểm nghẽn mới mà còn tạo áp lực trách nhiệm đối với cơ quan thực thi. Đây cũng là cách để khắc phục tình trạng hồ sơ luân chuyển qua nhiều cơ quan nhưng trách nhiệm cuối cùng không thuộc về một chủ thể cụ thể. Nguồn lực chỉ thực sự được khơi thông khi trách nhiệm được xác định rõ và quyết định được đưa ra đúng lúc.

Kiểm toán để phòng ngừa từ sớm

Khơi thông nguồn lực đất đai không thể đánh đổi bằng việc nới lỏng kỷ cương. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là đưa các dự án đình trệ trở lại hoạt động, mà phải bảo đảm đất đai được quản lý, sử dụng đúng pháp luật, hiệu quả, tiết kiệm; ngăn ngừa thất thoát, lãng phí và nâng cao chất lượng quản trị tài nguyên quốc gia.

Nghị quyết số 21-NQ/TW đặt yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán nhằm kịp thời xử lý vi phạm pháp luật về đất đai, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Với phạm vi kiểm toán trên nhiều địa phương, lĩnh vực và dự án, KTNN có điều kiện nhìn nhận vấn đề đất đai không chỉ từ một dự án, một địa phương mà ở tầm hệ thống. Qua kiểm toán, những bất cập trong quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, xác định giá đất, đấu giá quyền sử dụng đất, quản lý dự án sử dụng đất... được nhận diện; từ đó kiến nghị xử lý tài chính, chấn chỉnh quản lý và quan trọng hơn là kiến nghị sửa đổi những cơ chế còn bất cập.

Theo luật sư Phạm Thanh Tuấn, đây là lợi thế quan trọng của KTNN trong việc góp phần hoàn thiện chính sách và phòng ngừa sai phạm. Trong khi đó, bà Phạm Thị Miền cho rằng hiệu quả kiểm toán không chỉ được đo bằng số tiền kiến nghị xử lý, mà còn ở khả năng cảnh báo sớm rủi ro, nâng cao hiệu quả quản trị và đưa nguồn lực đất đai trở lại sử dụng đúng mục đích, hiệu quả.

Từ góc nhìn này, kiểm toán không chỉ là hoạt động “đi sau” để phát hiện sai phạm, mà cần ngày càng phát huy vai trò nhìn trước, cảnh báo trước và kiến nghị từ gốc. Mỗi kiến nghị kiểm toán được thực hiện hiệu quả sẽ không chỉ giải quyết một tồn tại cụ thể mà còn có thể ngăn ngừa những sai phạm tương tự phát sinh ở nhiều dự án, địa phương khác.

Trong bối cảnh Quốc hội và Chính phủ đang đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng, vai trò của KTNN càng trở nên quan trọng trong việc bảo đảm hài hòa hai yêu cầu: Khơi thông nguồn lực cho phát triển và giữ vững kỷ cương pháp luật. Thông qua hoạt động kiểm toán, những điểm nghẽn được nhận diện rõ hơn, những bất cập được kiến nghị sửa đổi kịp thời và các rủi ro được cảnh báo từ sớm, góp phần tạo cơ sở để nguồn lực đất đai được đưa vào khai thác hiệu quả mà không làm gia tăng rủi ro thất thoát, lãng phí.

Có thể thấy, hành trình khơi thông nguồn lực đất đai không chỉ đòi hỏi những đột phá về thể chế mà còn cần sự quyết liệt trong tổ chức thực hiện và sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan quản lý, địa phương. Trong quá trình đó, KTNN với vai trò kiểm tra, giám sát, cảnh báo rủi ro, kiến nghị hoàn thiện cơ chế và thúc đẩy thực thi hiệu quả sẽ tiếp tục là lực lượng đồng hành quan trọng, góp phần đưa đất đai thực sự trở thành nguồn lực chiến lược, tạo động lực cho tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững của đất nước./.

NHÓM PHÓNG VIÊN

Nguồn Kiểm Toán: https://baokiemtoan.vn/vi/bai-viet/khoi-thong-nguon-luc-dat-dai-va-vai-tro-cua-kiem-toan-nha-nuoc-bai-cuoi-de-dat-dai-tro-thanh-nguon-luc-chien-luoc-