Khơi thông nguồn lực kinh tế biển gắn với chủ quyền quốc gia

Sáng 24/10, các đại biểu Quốc hội thảo luận về 3 nội dung trọng tâm: dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.

Đại biểu Nguyễn Hữu Nghĩa, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên phát biểu.

Đại biểu Nguyễn Hữu Nghĩa, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên phát biểu.

Tại các phiên thảo luận, nhiều ý kiến tâm huyết, thẳng thắn đã được đưa ra, nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý, khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường và chủ quyền quốc gia.

Cần đảm bảo đối xử bình đẳng và hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư

Đóng góp ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư, đại biểu Nguyễn Hữu Nghĩa, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hưng Yên nhấn mạnh yêu cầu thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, nghị quyết của Bộ Chính trị là Nghị quyết số 10…

Đại biểu lưu ý, Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp cần phải đảm bảo nguyên tắc đối xử bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Do đó, ông đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát kỹ lưỡng các chủ trương về phát triển kinh tế nhà nước (cụ thể là doanh nghiệp nhà nước) và kinh tế tư nhân (cụ thể là các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân) để thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ trong dự thảo Luật đầu tư này.

Về các hình thức hỗ trợ đầu tư tại Điều 14, đại biểu Nguyễn Hữu Nghĩa đề xuất bổ sung 4 nội dung trọng tâm cần sự hỗ trợ của Nhà nước: Hỗ trợ khâu thử nghiệm và thương mại hóa kết quả nghiên cứu của các doanh nghiệp; Hỗ trợ xây dựng thương hiệu và đăng ký sở hữu trí tuệ (nhằm thể chế hóa tinh thần Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị); Hỗ trợ tiếp cận và phát triển thị trường cho các dự án đầu tư và doanh nghiệp; Hỗ trợ chuyển giao kỹ năng, công nghệ từ các dự án công nghệ cao của nhà đầu tư (cả trong nước và nước ngoài) cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư khác trong nước.

Đặc biệt, Trưởng đoàn ĐBQH Hưng Yên nhấn mạnh quan điểm: “Hỗ trợ và ưu đãi đầu tư phải có điều kiện, có thời hạn và dựa trên cơ sở kết quả thực hiện các cam kết”. Việc đánh giá thụ hưởng chính sách cần được thực hiện cả trong và sau quá trình triển khai, nhằm xác định hiệu quả thực sự đối với phát triển kinh tế - xã hội mới xứng đáng thụ hưởng chính sách này.

Về công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá (Điều 44), đại biểu Nguyễn Hữu Nghĩa chỉ ra bất cập khi hiện nay chủ yếu tập trung đánh giá sau khi dự án đã hoàn thành. Ông đề nghị phải giám sát, đánh giá chặt chẽ ngay trong quá trình triển khai; nếu nhà đầu tư không đáp ứng tiến độ, thời hạn, hay sản phẩm cam kết, cần dừng hỗ trợ ngay, tránh tình trạng dự án hoàn thành mới đánh giá thì nguồn lực ưu đãi đã tiêu tốn. Đồng thời, dự thảo luật cần bổ sung khung thời hạn tối đa mà dự án đầu tư được hưởng ưu đãi, cũng như quy định rõ nguyên tắc, trình tự, thủ tục và thẩm quyền thu hồi (thu hồi một phần hay toàn bộ) các khoản hỗ trợ, ưu đãi khi nhà đầu tư vi phạm cam kết.

Đại biểu Vũ Văn Tiến, Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng.

Đại biểu Vũ Văn Tiến, Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng.

Tháo gỡ điểm nghẽn khảo sát biển và khoảng trống pháp lý lấn biển

Đối với dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Đoàn ĐBQH TP Hà Nội đóng góp nhiều phân tích sâu sắc về cơ chế pháp lý cho hoạt động khảo sát trên biển và quản lý hoạt động lấn biển.

Theo đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, vướng mắc lớn nhất khiến các dự án năng lượng tái tạo ngoài khơi (như điện gió) và dự án kinh tế biển quy mô lớn bị đình trệ hiện nay nằm ở khâu cho phép nhà đầu tư đo gió, đo sóng, khảo sát địa chất. Quy định hiện hành tạo ra một "vòng luẩn quẩn": Muốn thuê khu vực biển để khảo sát, hồ sơ lại yêu cầu phải có chấp thuận chủ trương đầu tư; nhưng chưa khảo sát không có dữ liệu kỹ thuật để lập dự án xin chấp thuận chủ trương đầu tư.

Để giải quyết tận gốc điểm nghẽn này, đại biểu đề xuất: Chấp thuận hoạt động đo đạc, quan trắc, khảo sát trên biển có thời hạn để chuẩn bị đầu tư” theo thủ tục hành chính đơn giản, không coi đây là hợp đồng cho thuê biển; Ràng buộc trên 3 nguyên tắc: Thời hạn chấp thuận tối đa không quá 36 tháng; toàn bộ dữ liệu thu được phải nộp vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; văn bản chấp thuận không làm phát sinh quyền ưu tiên hay đương nhiên được giao/cho thuê khu vực biển sau này.

Về hoạt động lấn biển (điểm c khoản 1 Điều 25), đại biểu chỉ ra khoảng trống pháp lý khi dự thảo quy định miễn thủ tục giao, cho thuê khu vực biển. Quá trình thi công lấn biển thường kéo dài 3–5 năm, nếu miễn trừ hoàn toàn giai đoạn này sẽ dẫn đến tình trạng diện tích mặt nước san lấp rơi vào "vô chủ", thiếu mốc giới hải chính để giám sát ô nhiễm, gây thất thoát ngân sách và nguy cơ sạt lở bờ biển. Do đó, đại biểu đề xuất Nhà nước vẫn thực hiện giao khu vực biển trong giai đoạn thi công theo cơ chế liên thông, lồng ghép với quyết định giao đất/cho thuê đất của Luật Đất đai, và chỉ miễn thủ tục biển khi công trình đã hoàn thành nghiệm thu chuyển sang chế độ quản lý đất đai. Đồng thời, cần bổ sung các quy định chuyển tiếp đồng bộ tại Điều 75 để xử lý các hồ sơ dở dang.

Cùng thảo luận về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), đại biểu Vũ Văn Tiến, Đoàn ĐBQH TP Hải Phòng nhấn mạnh yêu cầu vừa khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế, vừa lường trước rủi ro để bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng.

Đại biểu Vũ Văn Tiến nêu thực trạng: Hiện mới có 13/21 địa phương phê duyệt danh mục thực hiện cắm mốc giới hành lang bảo vệ bờ biển, tổng chiều dài mới đạt khoảng 50%. Tranh chấp giữa lợi ích doanh nghiệp và quyền lợi người dân đã và đang xảy ra. Đại biểu nhấn mạnh: “Không thể cứ mãi mất bò mới lo làm chuồng”, đồng thời đề nghị Luật phải quy định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện quyền tiếp cận biển của người dân, công khai lối đi công cộng, quy định thời hạn cắm mốc và xử lý nghiêm trách nhiệm khi chậm triển khai hoặc để xảy ra lấn chiếm.

Bên cạnh đó, về cơ chế tài chính và tiền sử dụng khu vực biển, đại biểu Vũ Văn Tiến đề nghị cần làm rõ nguyên tắc định giá và thẩm quyền thẩm định. Việc định giá phải tính toán thận trọng dựa trên mục đích sử dụng (điện gió, nuôi trồng thủy sản hay du lịch). Giá quá thấp làm thất thu ngân sách nhà nước, nhưng giá quá cao sẽ khiến doanh nghiệp bỏ cuộc; nguyên tắc không rõ ràng còn dễ tạo kẽ hở tham nhũng và áp dụng thiếu thống nhất giữa các địa phương.

Lê Vân/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/khoi-thong-nguon-luc-kinh-te-bien-gan-voi-chu-quyen-quoc-gia-post1397025.html