Khơi thông 'nút thắt' thể chế, đánh thức khát vọng làm giàu từ biển

Ba điểm nghẽn về thể chế, quản trị không gian biển và kiểm soát ô nhiễm đang được tập trung tháo gỡ nhằm tạo động lực mới cho kinh tế biển phát triển bền vững.

Không gian biển chờ cơ chế mới để cất cánh

Không gian biển chờ cơ chế mới để cất cánh

Tháo gỡ những “nút thắt” trong quản trị không gian biển

Sau hơn 5 năm triển khai Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế biển đã từng bước khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng của nhiều địa phương ven biển. Tuy nhiên, quá trình thực thi cũng bộc lộ không ít hạn chế về thể chế, cơ chế quản lý và khai thác tài nguyên biển.

Trong quá trình tổng kết Nghị quyết 36-NQ/TW và xây dựng Đề án sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã nhận diện nhiều điểm nghẽn cần được tháo gỡ để tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới.

Theo ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở hệ thống thể chế còn thiếu tính đồng bộ. Không gian biển đang chịu sự điều chỉnh của nhiều đạo luật khác nhau như Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Luật Dầu khí, Luật Địa chất và khoáng sản, Luật Hàng hải Việt Nam, Luật Thủy sản và Luật Biển Việt Nam.

Mặc dù mỗi đạo luật điều chỉnh một lĩnh vực riêng biệt, song việc cùng tác động lên một không gian biển thống nhất đã dẫn tới những bất cập trong phối hợp quản lý, phân định trách nhiệm và tổ chức thực thi.

“Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, thống nhất, tạo cơ sở cho quản trị biển hiện đại, hiệu quả và phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới”, ông Toản nhấn mạnh.

Bên cạnh đó, thực tiễn 10 năm thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 cho thấy nhiều quy định liên quan đến phân bổ, giao, cho thuê và sử dụng khu vực biển chưa theo kịp tốc độ phát triển của các ngành kinh tế biển.

Trong bối cảnh nhu cầu khai thác không gian biển ngày càng gia tăng, việc xây dựng các công cụ quản trị hiện đại, minh bạch và hiệu quả được xem là yêu cầu cấp thiết. Đây cũng là điểm nghẽn thứ hai được cơ quan quản lý xác định trong quá trình rà soát chính sách.

Điểm nghẽn thứ ba là công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường biển. Áp lực từ phát triển kinh tế, đô thị hóa ven biển, khai thác tài nguyên cùng những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải tăng cường năng lực quản lý môi trường biển.

Theo ông Toản, việc sửa đổi luật lần này được xây dựng trên cơ sở bốn nhóm chính sách trọng tâm. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện thể chế quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên, môi trường biển và hải đảo trên cơ sở triển khai hiệu quả Quy hoạch không gian biển quốc gia đã được Quốc hội thông qua năm 2024.

Một nội dung quan trọng khác là hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê, đăng ký và đấu giá quyền sử dụng khu vực biển theo hướng công khai, minh bạch, tạo niềm tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư khi triển khai các dự án trên biển.

Dự thảo luật cũng hướng tới xây dựng các cơ chế đột phá nhằm thúc đẩy những ngành kinh tế biển mới nổi như năng lượng tái tạo ngoài khơi và các mô hình kinh tế biển hiện đại khác. Đồng thời, tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và đại dương, bảo đảm nguyên tắc phát triển kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên và hệ sinh thái biển.

Theo ông Nguyễn Quốc Toản, hồ sơ chính sách đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ xem xét. Dự kiến trong tháng 6, dự thảo luật sẽ được công bố rộng rãi để lấy ý kiến các địa phương, doanh nghiệp, chuyên gia và người dân nhằm hoàn thiện chính sách với chất lượng cao nhất.

“Không đánh đổi môi trường biển, hệ sinh thái biển và đa dạng sinh học biển lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần” là nguyên tắc xuyên suốt được quán triệt trong quá trình xây dựng luật.

Bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, ông Toản cho rằng cần huy động sự tham gia của toàn xã hội, từ doanh nghiệp đến cộng đồng cư dân ven biển trong công tác bảo vệ môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên biển. Đồng thời, báo chí cần tiếp tục phát huy vai trò nâng cao nhận thức cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ, về trách nhiệm gìn giữ biển, đảo cho các thế hệ tương lai.

Mở rộng không gian phát triển kinh tế biển

Không chỉ dừng lại ở việc tháo gỡ các điểm nghẽn về quản lý, việc sửa đổi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo còn được kỳ vọng mở ra dư địa phát triển mới cho kinh tế biển Việt Nam.

Theo ông Đặng Ngọc Điệp, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, yêu cầu quan trọng được lãnh đạo Đảng và Nhà nước đặt ra là phải khai thác hiệu quả hơn tiềm năng, lợi thế biển để phục vụ mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.

Hiện nay, sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, cả nước có 34 tỉnh, thành phố, trong đó có 21 địa phương có biển. Đây là nguồn lực rất lớn cho phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại và bền vững.

“Luật sửa đổi phải tạo được cơ chế thông thoáng hơn, khuyến khích người dân và doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế biển, đồng thời giải quyết dứt điểm tình trạng chồng chéo trong quản lý nhà nước”, ông Điệp nhấn mạnh.

Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong quá khứ, nhiều dự án liên quan đến biển phải thực hiện thủ tục với nhiều bộ, ngành khác nhau, làm kéo dài thời gian xử lý hồ sơ và gia tăng chi phí cho doanh nghiệp.

Tinh thần của lần sửa đổi luật này là phân định rõ trách nhiệm quản lý theo nguyên tắc “một việc, một cơ quan chủ trì”, giảm tối đa tình trạng chồng chéo, tạo môi trường đầu tư minh bạch và thuận lợi hơn.

Việt Nam hiện sở hữu hơn 1 triệu km² vùng biển cùng hệ thống đảo, quần đảo phong phú. Tuy nhiên, nhiều tiềm năng vẫn chưa được khai thác tương xứng với lợi thế sẵn có.

Theo ông Điệp, một trong những hướng đi đầy triển vọng là phát triển kinh tế đảo và du lịch nghỉ dưỡng cao cấp. Việt Nam có nhiều đảo lớn và hàng trăm đảo nhỏ với cảnh quan thiên nhiên đặc sắc, hoàn toàn có khả năng trở thành những điểm đến hàng đầu trong khu vực nếu có cơ chế thu hút đầu tư phù hợp.

Không chỉ vậy, kinh tế biển sâu cũng được đánh giá là động lực tăng trưởng mới trong tương lai. Nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang đẩy mạnh nghiên cứu, khai thác các nguồn tài nguyên biển sâu bằng công nghệ hiện đại.

Theo thông tin khảo sát bước đầu được chia sẻ tại hội nghị, tại một số lô dầu khí ngoài khơi có dấu hiệu hiện diện của nhiều loại khoáng sản chiến lược ở độ sâu khoảng 1.000 - 1.500 m dưới đáy biển. Đây được xem là nguồn tài nguyên có giá trị lớn, mở ra dư địa phát triển mới cho nền kinh tế, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và an ninh tài nguyên quốc gia.

Để hiện thực hóa những tiềm năng đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ tiếp tục thúc đẩy phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và hoàn thiện hành lang pháp lý cho các hoạt động đầu tư trên biển.

“Mục tiêu cuối cùng không chỉ là ban hành một đạo luật mới, mà phải tạo được sự lan tỏa trong thực tiễn, giúp khai thác hiệu quả tiềm năng biển, đảo, tạo động lực tăng trưởng mới và đóng góp vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững của đất nước”, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp khẳng định.

Hà Sơn

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/khoi-thong-nut-that-the-che-danh-thuc-khat-vong-lam-giau-tu-bien-182892.html