Khơi thông vốn cho doanh nghiệp: Từ cải cách IPO đến xử lý lệch pha kỳ hạn

Thủ tục IPO gắn với niêm yết được rút gọn, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp huy động vốn cổ phần. Tuy nhiên, để giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, nhất là tình trạng vay ngắn hạn đầu tư dự án dài hạn, doanh nghiệp còn phải chuẩn bị dữ liệu, năng lực quản trị và phương án sử dụng vốn đủ sức thuyết phục nhà đầu tư.

Khoảng 60.000 tỷ đồng vốn huy động qua IPO từ cuối năm 2025 đến thời điểm diễn ra Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026 là con số được ông Khương Tiến Hùng, Trưởng ban Quản lý chào bán chứng khoán, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) mới đây.

Tại diễn đàn, các ý kiến từ cơ quan quản lý, tổ chức tư vấn và quỹ đầu tư cùng làm rõ hai vấn đề: cải cách để doanh nghiệp huy động vốn thuận lợi hơn và những yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứng để tiếp cận, sử dụng nguồn vốn dài hạn.

IPO gắn với niêm yết, giảm thời gian chờ lên sàn

Phiên thảo luận Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026

Phiên thảo luận Diễn đàn Thị trường vốn Việt Nam 2026

Theo ông Khương Tiến Hùng, một thay đổi quan trọng trong hoạt động chào bán chứng khoán là cơ chế đăng ký niêm yết đồng thời với chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO).

Trước đây, doanh nghiệp hoàn tất IPO rồi mới nộp hồ sơ niêm yết. Hai quy trình nối tiếp, do hai cơ quan xử lý, khiến thời gian đưa cổ phiếu lên sàn kéo dài. Trong quá trình đó, doanh nghiệp có thể phải cập nhật báo cáo tài chính khi hồ sơ chuyển sang kỳ báo cáo mới.

Cơ chế tại Điều 111a được bổ sung bởi Nghị định 245/2025/NĐ-CP cho phép doanh nghiệp đăng ký IPO đồng thời với đăng ký niêm yết. UBCKNN và Sở Giao dịch chứng khoán phối hợp xem xét, trao đổi thông tin trong quá trình xử lý hồ sơ.

Sau đợt chào bán, doanh nghiệp bổ sung tài liệu cập nhật để Sở tiếp tục xem xét những điều kiện còn lại và quyết định chấp thuận niêm yết. Ngày giao dịch đầu tiên phải nằm trong thời hạn tối đa 30 ngày kể từ ngày Sở có quyết định chấp thuận niêm yết.

Việc xử lý đồng thời giảm thời gian chờ giữa quá trình huy động vốn và đưa cổ phiếu lên sàn, đồng thời giúp nhà đầu tư tham gia IPO xác định rõ hơn lộ trình giao dịch của cổ phần đã mua.

Ông Hùng cho biết, giai đoạn 2021–2024, thị trường có khoảng 16 thương vụ IPO, huy động khoảng 6.500 tỷ đồng. Từ cuối năm 2025 đến thời điểm diễn đàn, số vốn huy động qua các tổ chức thực hiện IPO đạt khoảng 60.000 tỷ đồng.

Trong thời gian tới, UBCKNN tiếp tục rà soát những quy định còn bất cập, vướng mắc hoặc có cách hiểu khác nhau trong hoạt động chào bán, phát hành chứng khoán. Cơ quan quản lý hướng tới xử lý toàn bộ hồ sơ chào bán, phát hành trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến toàn trình để tiếp tục rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục.

Cùng với đó là thúc đẩy IPO, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký IPO và niêm yết theo quy định, bổ sung hàng hóa cho thị trường.

Có báo cáo kiểm toán, vẫn chưa sẵn sàng nhận vốn

Thủ tục được cải cách là điều kiện thuận lợi, song quá trình huy động vốn còn phụ thuộc vào khả năng doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu thẩm định của bên bỏ vốn.

Ông Johan Nyvene, Chủ tịch HĐQT Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC), nhận xét sự chuẩn bị của nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn yếu, kể cả tại những tập đoàn lớn. Nguyên nhân là doanh nghiệp đã quen với việc vay ngân hàng, làm việc trên cơ sở báo cáo tài chính quá khứ và tài sản bảo đảm.

Khi IPO hoặc chào bán riêng lẻ cho nhà đầu tư nước ngoài, yêu cầu thay đổi. Doanh nghiệp phải trực tiếp gặp gỡ, trình bày và giải đáp câu hỏi của nhà đầu tư. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp thiếu giám đốc tài chính đủ năng lực đảm nhiệm công việc này; có trường hợp chủ tịch HĐQT hoặc tổng giám đốc cũng không tham gia các cuộc tiếp xúc.

Khoảng trống còn nằm ở dữ liệu. Theo ông Nyvene, doanh nghiệp có thể giới thiệu doanh thu tăng qua các năm nhưng chưa giải trình thuyết phục được triển vọng hai năm tiếp theo. Khi nhà đầu tư hỏi sâu về doanh thu từ khách hàng mới, khách hàng quay lại hoặc cơ cấu khách hàng ngắn hạn và dài hạn, doanh nghiệp lại thiếu phân tích.

Để huy động vốn quốc tế, doanh nghiệp cũng cần đầu tư cho các đơn vị tư vấn, kiểm toán và luật. Tổng chi phí có thể lên tới vài triệu USD. Theo Chủ tịch HSC, tâm lý ngại chi phí khiến nhiều doanh nghiệp trì hoãn chuẩn bị qua nhiều năm, đến khi lãi vay tăng và dòng tiền khó khăn mới tìm cách phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu quốc tế.

Từ thực tế tư vấn, bà Lương Thị Ánh Tuyết, Phó tổng giám đốc, Lãnh đạo Thị trường PwC Việt Nam, nêu tình huống doanh nghiệp đề nghị có báo cáo kiểm toán Big 4 trong vòng ba tháng để kịp cung cấp cho nhà đầu tư nước ngoài. Khi rà soát, báo cáo tài chính những năm trước chưa được kiểm toán độc lập bài bản.

Theo bà Tuyết, dữ liệu tài chính và vận hành tại nhiều doanh nghiệp còn phân tán, thiếu tập trung và không nhất quán, gây khó khăn cho quá trình thẩm định, định giá. Năng lực xây dựng mô hình tài chính, dự báo dòng tiền cũng là hạn chế, nhất là tại doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Ở phía quyết định giải ngân, ông Đinh Đức Minh, Giám đốc Đầu tư cấp cao VinaCapital, cho biết quỹ xem xét tính bền vững của mô hình kinh doanh, vị thế cạnh tranh, chiến lược, năng lực lãnh đạo và chất lượng quản trị.

Kết quả kinh doanh tăng trưởng chưa đủ để bảo đảm doanh nghiệp nhận được vốn. Quỹ vẫn thận trọng nếu lợi nhuận tăng nhưng dòng tiền kinh doanh cốt lõi âm, hoặc lợi nhuận phụ thuộc vào thu nhập bất thường và giao dịch tài chính ngắn hạn.

Với tỷ lệ sở hữu thường từ vài phần trăm đến khoảng 10%, nhà đầu tư tài chính còn đặc biệt quan tâm đến quyền lợi cổ đông thiểu số. Đại diện VinaCapital nhấn mạnh yêu cầu minh bạch, đạo đức quản trị và sự tin cậy đối với ban điều hành. Ngay cả khi doanh nghiệp có triển vọng, mức giá chào bán xa rời thực tế vẫn có thể khiến quỹ từ chối tham gia.

Chọn nguồn vốn theo chu kỳ dự án

Nhu cầu đa dạng hóa kênh huy động vốn trở nên rõ hơn khi nhìn vào tình trạng mất cân đối kỳ hạn tại doanh nghiệp.

Ông Phùng Xuân Minh, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Saigon Ratings, cho biết khả năng tích lũy vốn nội tại của nhiều doanh nghiệp còn yếu; một số ngành, đặc biệt là bất động sản, phụ thuộc lớn vào vốn vay. Có doanh nghiệp sử dụng khoản vay ngân hàng ngắn hạn để đầu tư dự án kéo dài 3–5 năm.

Khi dự án chưa tạo dòng tiền nhưng khoản vay đã đến hạn, doanh nghiệp đối mặt với rủi ro thanh khoản. Nếu tiến độ hoặc hiệu quả đầu tư không đạt dự kiến, áp lực trả nợ càng tăng.

Theo ông Minh, doanh nghiệp cần có phương án tài chính dự phòng, đa dạng hóa nguồn tài trợ và chuẩn bị kịch bản thay thế khi điều kiện kinh doanh thay đổi bất lợi.

Từ góc độ tài trợ quốc tế, ông Nguyễn Đỗ Hòa, Giám đốc Cơ quan Hỗ trợ tài chính xuất khẩu Vương quốc Anh (UKEF) tại Việt Nam, Lào và Campuchia, cho rằng doanh nghiệp cần xem xét nguồn vốn có được cấu trúc phù hợp với bản chất và chu kỳ dự án hay không trước khi so sánh lãi suất đắt hay rẻ.

Ông Hòa giới thiệu các hình thức bảo lãnh, cho vay trực tiếp của UKEF, phối hợp với những ngân hàng quốc tế để cung cấp nguồn tài trợ dài hạn. Theo thông tin UKEF công bố, thời hạn hoàn trả có thể tới 15 năm, dài hơn ở một số lĩnh vực; hoạt động hỗ trợ gắn với việc mua sắm hàng hóa, dịch vụ từ Vương quốc Anh.

Để tiếp cận nguồn vốn này, doanh nghiệp cần đáp ứng yêu cầu về quản trị và khả năng dự báo dòng tiền minh bạch. Ông Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP.HCM, cũng đề cập vai trò của việc nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia trong cải thiện điều kiện huy động vốn quốc tế của doanh nghiệp.

Bên cạnh việc thu xếp nguồn vốn phù hợp, mục đích sử dụng tiền sau huy động là nội dung được các tổ chức tài chính theo dõi. Ông Phùng Xuân Minh cho biết quá trình xếp hạng tín nhiệm phải phân tích dòng tiền từ kinh doanh cốt lõi hay đầu tư tài chính, làm rõ mục đích sử dụng vốn và đánh giá rủi ro vốn bị rút sang công ty liên kết.

Về phía cơ quan quản lý, ông Khương Tiến Hùng cho biết, đi cùng cắt giảm thủ tục hành chính, UBCKNN sẽ tăng cường giám sát, đặc biệt là mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp sau phát hành.

Phan Hằng

Nguồn Thời báo Tài chính: https://thoibaotaichinhvietnam.vn/khoi-thong-von-cho-doanh-nghiep-tu-cai-cach-ipo-den-xu-ly-lech-pha-ky-han-206219.html