Không để cơ sở thực phẩm chỉ bảo đảm điều kiện khi có đoàn kiểm tra

Phát biểu tại Tổ 10 (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An và Đồng Tháp) chiều 24/10, về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn thực phẩm, ĐBQH Ngô Nam Cường (Nghệ An) đề nghị làm rõ cơ chế giám sát việc duy trì các điều kiện an toàn thực phẩm (ATTP) trong suốt quá trình hoạt động, không chỉ tại thời điểm kiểm tra; đồng thời, hoàn thiện nguyên tắc áp dụng pháp luật và quy định quản lý theo mức độ nguy cơ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và khả thi.

Làm rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật, tránh chồng chéo

Tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật An toàn thực phẩm nhằm khắc phục những bất cập trong quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả kiểm soát nguy cơ mất ATTP, ĐBQH Ngô Nam Cường nhấn mạnh, đây là vấn đề liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng người dân, chất lượng cuộc sống và sự phát triển bền vững của đất nước.

ĐBQH Ngô Nam Cường (Nghệ An) phát biểu

ĐBQH Ngô Nam Cường (Nghệ An) phát biểu

Theo đại biểu, mặc dù công tác quản lý nhà nước về ATTP đã đạt được những kết quả tích cực, thực tiễn vẫn còn không ít hạn chế trong kiểm soát chất lượng thực phẩm, phân định trách nhiệm quản lý và xử lý nguy cơ mất ATTP. Vì vậy, việc sửa đổi Luật cần hướng tới hoàn thiện hành lang pháp lý chặt chẽ, đồng bộ, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn.

Góp ý khoản 1 Điều 3 về nguyên tắc áp dụng pháp luật, đại biểu cho rằng, quy định đối với trường hợp luật khác do Quốc hội ban hành sau có nội dung đặc thù về ATTP cần được làm rõ hơn. Đối chiếu với khoản 4 và khoản 6 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, đại biểu nhận thấy quy định tại dự thảo không đương nhiên mâu thuẫn với nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, việc chưa xác định rõ tiêu chí phân biệt quy định đặc thù với quy định chung có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau.

Do đó, ĐBQH Ngô Nam Cường đề nghị chỉnh lý khoản 1 Điều 3 theo hướng xác định rõ trường hợp ưu tiên áp dụng luật khác khi luật đó có quy định cụ thể về cùng một vấn đề ATTP và xác định rõ phạm vi áp dụng khác biệt; tránh cách quy định có thể được hiểu là ràng buộc tuyệt đối đối với thẩm quyền lập pháp của Quốc hội trong tương lai.

Các ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên thảo luận tổ

Các ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên thảo luận tổ

Đối với khoản 2 Điều 3, đại biểu nhận thấy phạm vi ưu tiên áp dụng Luật An toàn thực phẩm đối với các luật ban hành trước còn rộng. Hoạt động quản lý thực phẩm đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; thú y; thủy sản; bảo vệ và kiểm dịch thực vật.

Theo đại biểu, nếu không xác định rõ giới hạn áp dụng, có thể dẫn đến việc sử dụng Luật An toàn thực phẩm để loại trừ những nghĩa vụ pháp lý vốn cần được thực hiện đồng thời. Trong khi đó, nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật tại khoản 3 và khoản 4 Điều 58 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 được đặt ra khi các văn bản có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Việc nhiều quy định pháp luật cùng liên quan đến một sản phẩm không đồng nghĩa với việc đương nhiên có xung đột pháp luật.

Từ đó, đại biểu kiến nghị chỉ ưu tiên áp dụng Luật An toàn thực phẩm đối với những nội dung trực tiếp điều chỉnh việc phân loại và lựa chọn biện pháp quản lý ATTP có sự khác biệt thực chất. Các nội dung về chất lượng sản phẩm, kiểm dịch, quyền lợi người tiêu dùng và trách nhiệm dân sự tiếp tục thực hiện theo pháp luật có liên quan, trừ trường hợp có quy định khác biệt rõ ràng.

Cũng tại Điều 3, ĐBQH Ngô Nam Cường đề nghị bổ sung một khoản quy định về áp dụng điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, phù hợp với pháp luật về điều ước quốc tế và pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đại biểu, khoản 1 và khoản 2 Điều 3 của dự thảo chủ yếu giải quyết mối quan hệ giữa các luật trong nước, trong khi việc áp dụng điều ước quốc tế cũng cần được làm rõ, nhất là đối với thực phẩm xuất khẩu, nhập khẩu.

Giám sát việc duy trì điều kiện ATTP trong suốt quá trình hoạt động

Liên quan đến khoản 2 Điều 23, ĐBQH Ngô Nam Cường đề nghị làm rõ giá trị của việc áp dụng thực hành vệ sinh tốt (GHP) đối với trách nhiệm đáp ứng các điều kiện ATTP bắt buộc... Theo đại biểu, quy định cơ sở áp dụng GHP không phải thực hiện các điều kiện tại khoản 1 Điều 23 có thể dẫn đến cách hiểu rằng việc đáp ứng GHP đồng nghĩa với được miễn toàn bộ điều kiện bảo đảm ATTP.

Trong khi đó, các điều kiện bắt buộc không chỉ liên quan đến quy trình vệ sinh mà còn bao gồm nguồn nước, cơ sở vật chất, nguyên liệu đầu vào, bảo quản, kiểm soát nhiễm chéo và điều kiện của người trực tiếp chế biến. Các yêu cầu về điều kiện sản xuất, kinh doanh và bảo quản thực phẩm cũng đã được quy định tại Điều 19 và Điều 20 Luật An toàn thực phẩm năm 2010.

Toàn cảnh phiên thảo luận tổ.

Toàn cảnh phiên thảo luận tổ.

Vì vậy, đại biểu đề nghị chỉnh lý khoản 2 Điều 23 theo hướng cơ sở đáp ứng GHP được công nhận đáp ứng những điều kiện tương ứng đã được đánh giá, không phải đánh giá trùng lặp nhưng vẫn phải duy trì đầy đủ các yêu cầu bắt buộc khác. Qua đó, tránh cách hiểu việc áp dụng một tiêu chuẩn thực hành có thể trở thành căn cứ miễn trừ toàn bộ nghĩa vụ bảo đảm ATTP.

ĐBQH Ngô Nam Cường cũng kiến nghị bổ sung tại Điều 23 hoặc các điều có liên quan nguyên tắc xác định điều kiện quản lý theo tính chất sản phẩm, quy mô hoạt động và mức độ nguy cơ.

Theo đại biểu, không thể áp dụng hoàn toàn giống nhau các yêu cầu kiểm soát đối với hộ kinh doanh thực phẩm đóng gói nhỏ lẻ và cơ sở cung cấp hàng nghìn suất ăn mỗi ngày. Điều 22 Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã có quy định riêng về điều kiện bảo đảm ATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, cho thấy sự cần thiết phải phân biệt các nhóm đối tượng quản lý.

Đối với những cơ sở phục vụ đông người, kinh doanh thực phẩm ăn ngay, bếp ăn tập thể, cần có yêu cầu kiểm soát tương ứng với mức độ nguy cơ; đồng thời tránh đặt ra thủ tục không cần thiết đối với cơ sở có nguy cơ thấp.

Đặc biệt, đại biểu đề nghị làm rõ cơ chế giám sát việc duy trì GHP sau khi cơ sở được công nhận đáp ứng điều kiện. Theo đó, cần phân biệt việc đáp ứng các tiêu chí tại thời điểm đánh giá với trách nhiệm duy trì những điều kiện này trong suốt quá trình hoạt động.

Từ thực tiễn công tác tại địa phương, ĐBQH Ngô Nam Cường phản ánh tình trạng một số cơ sở mượn máy móc, thiết bị, thuê người đứng tên để đáp ứng yêu cầu khi có đoàn kiểm tra nhưng sau đó không tiếp tục duy trì các điều kiện đã được đánh giá.

Bên cạnh đó, một cơ sở có thể đáp ứng đầy đủ các tiêu chí tại thời điểm kiểm tra nhưng sau đó thay đổi nguồn nguyên liệu, thiết bị, nhân sự hoặc quy trình bảo quản, làm phát sinh nguy cơ mất ATTP.

Do đó, đại biểu đề nghị quy định rõ trách nhiệm thường xuyên duy trì GHP, nghĩa vụ thông báo khi có thay đổi ảnh hưởng đến điều kiện bảo đảm ATTP và cơ chế kiểm tra dựa trên nguy cơ. Đồng thời, cần quy định hậu quả pháp lý khi cơ sở không tiếp tục đáp ứng các điều kiện đã được công nhận.

ĐBQH Ngô Nam Cường cũng đề cập việc ứng dụng chuyển đổi số để hỗ trợ truy xuất, theo dõi và giám sát thường xuyên, nâng cao trách nhiệm tuân thủ của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.

Nhấn mạnh việc sửa đổi Luật không chỉ nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước mà quan trọng hơn là thiết lập hành lang pháp lý chặt chẽ, đồng bộ để kiểm soát hiệu quả nguy cơ mất ATTP từ khâu sản xuất đến tiêu dùng, đại biểu Ngô Nam Cường đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định về nguyên tắc áp dụng pháp luật, điều kiện bảo đảm ATTP, cơ chế quản lý theo nguy cơ và phân định trách nhiệm của chính quyền địa phương, các cơ quan liên quan; khắc phục tình trạng chồng chéo, bỏ sót trách nhiệm, bảo đảm Luật sau khi ban hành có tính khả thi, thực sự đi vào cuộc sống.

Diệp Anh; ảnh: Khánh Duy

Nguồn Đại Biểu Nhân Dân: https://daibieunhandan.vn/khong-de-co-so-thuc-pham-chi-bao-dam-dieu-kien-khi-co-doan-kiem-tra-10440355.html