Khủng hoảng Trung Đông đẩy nhanh quá trình chuyển dịch năng lượng carbon thấp

Theo báo cáo Energy Transition Outlook lần thứ 10 do DNV công bố, các quốc gia nhập khẩu năng lượng đang phát triển năng lượng sạch nhanh gấp ba lần các nước xuất khẩu, trong bối cảnh chính phủ tìm cách giảm phụ thuộc vào dầu khí nhập khẩu.

Cánh đồng quang điện Cestas ở Gironde, Pháp. (Ảnh: AFP)

Cánh đồng quang điện Cestas ở Gironde, Pháp. (Ảnh: AFP)

Khủng hoảng năng lượng thúc đẩy đầu tư năng lượng tái tạo

Trong 5 năm qua, tỷ trọng năng lượng phi hóa thạch trong cơ cấu năng lượng sơ cấp tại các khu vực nhập khẩu năng lượng như Trung Quốc, Ấn Độ và châu Âu tăng 2,2%, nhanh gấp ba lần mức tăng 0,7% tại các khu vực xuất khẩu như Trung Đông, Bắc Mỹ và Nga.

Việc eo biển Hormuz bị phong tỏa cùng giá dầu khí tăng vọt càng thúc đẩy các chính phủ đa dạng hóa nguồn cung và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu.

Theo DNV, đầu tư toàn cầu vào năng lượng tái tạo đã tăng gấp đôi, từ 860 tỷ USD năm 2021 lên mức dự kiến 1.770 tỷ USD năm 2026.

Ông Ditlev Engel, người đứng đầu bộ phận Hệ thống năng lượng của DNV, nhận định an ninh năng lượng đang định hình lại quá trình chuyển dịch năng lượng. Các nước nhập khẩu đẩy nhanh điện khí hóa, phát triển năng lượng tái tạo và hệ thống lưu trữ điện; trong khi các nước xuất khẩu tăng đầu tư và sản lượng để ứng phó với tình trạng thiếu hụt hiện tại. Điều này khiến khoảng cách về tốc độ và định hướng chuyển dịch năng lượng giữa hai nhóm ngày càng lớn.

Nhu cầu dầu khí có thể suy giảm dài hạn

Theo DNV, xung đột ở Trung Đông đang gây ra sự suy giảm nhu cầu dầu khí toàn cầu mang tính lâu dài. Xung đột càng kéo dài, mức giảm nhu cầu càng lớn.

Nếu xung đột tiếp diễn đến năm 2030 và giá dầu khí duy trì ở mức cao vừa phải, nhu cầu toàn cầu đối với hai loại nhiên liệu này có thể thấp hơn 4-6% so với kịch bản không xảy ra xung đột. Đến năm 2050, nhu cầu vẫn thấp hơn 2-5% so với dự báo cơ sở của DNV.

Dù vậy, Trung Đông vẫn sẽ giữ vai trò quan trọng trong nguồn cung dầu toàn cầu. DNV dự báo khu vực này sẽ chiếm khoảng 40% sản lượng dầu thế giới vào năm 2050, giảm so với mức 50% trong dự báo năm trước.

Điện khí hóa tăng tốc trong hai thập niên tới

Để giảm phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu, các quốc gia dự kiến đẩy nhanh điện khí hóa. Tốc độ điện khí hóa trong giai đoạn tới có thể cao hơn gấp đôi so với 20 năm trước.

Theo DNV, điện có thể chiếm 33% tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng toàn cầu vào năm 2045, tăng từ mức 21% hiện nay và 16% năm 2005. Tại Trung Quốc, tỷ trọng này có thể vượt 50% vào năm 2060, so với 27% hiện nay.

Nhu cầu điện tăng mạnh còn đến từ các trung tâm dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo (AI). DNV dự báo lượng điện tiêu thụ của các trung tâm dữ liệu trên toàn cầu sẽ tăng gần gấp ba, từ khoảng 400 TWh năm 2025 lên 1.100 TWh năm 2030, trước khi đạt gần 2.000 TWh vào năm 2035.

Tuy nhiên, đến năm 2040, xe điện và hệ thống điều hòa không khí được dự báo đóng góp nhiều hơn vào mức tăng nhu cầu điện toàn cầu so với các trung tâm dữ liệu. Thị phần xe điện trên toàn thế giới có thể vượt 50% vào giữa thập niên 2030, chủ yếu nhờ thị trường Trung Quốc và châu Âu.

Điện mặt trời có thể trở thành nguồn điện lớn nhất từ năm 2031

Năm 2025, tổng sản lượng điện từ các nguồn năng lượng tái tạo lần đầu tiên vượt sản lượng điện than, theo DNV.

Đến năm 2033, điện mặt trời và điện gió có thể tạo ra lượng điện lớn hơn tổng sản lượng từ tất cả các nhà máy nhiệt điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Trong kịch bản của DNV, điện mặt trời có thể trở thành nguồn phát điện lớn nhất thế giới vào năm 2031.

Đến năm 2060, điện mặt trời và điện gió lần lượt có thể chiếm 46% và 31% tổng sản lượng điện toàn cầu.

Điện hạt nhân cũng được dự báo duy trì tỷ trọng hiện tại trong cơ cấu phát điện toàn cầu khi quá trình điện khí hóa tăng tốc. Công suất điện hạt nhân lắp đặt có thể tăng 30% trong thập niên tới và 170% vào năm 2060, bất chấp chi phí cao và rủi ro chuỗi cung ứng.

Trong khi đó, chi phí giảm giúp điện mặt trời, điện gió và pin lưu trữ phát triển nhanh hơn. Ngược lại, các công nghệ đắt đỏ hơn như hydro và thu giữ, lưu trữ carbon (CCS) có triển vọng tăng trưởng thấp hơn so với dự báo trước đây, dù vẫn có thể tăng nhanh từ quy mô hiện tại còn nhỏ.

DNV dự báo lượng phát thải CO₂ từ năng lượng và các quy trình công nghiệp có thể giảm 44% vào năm 2050, từ 39 tỷ tấn hiện nay xuống còn 22 tỷ tấn. Riêng phát thải từ ngành điện có thể giảm 60%.

Tuy nhiên, theo kịch bản này, thế giới vẫn chưa đi được nửa chặng đường hướng tới trung hòa carbon. Mốc đạt mục tiêu có thể bị lùi đến thập niên 2090. Dự báo này còn nhiều bất định do phụ thuộc vào các công nghệ chưa được triển khai trên quy mô lớn, như thu giữ CO₂ trực tiếp từ không khí (DAC), cũng như những thay đổi trong sử dụng đất.

DNV cho rằng mục tiêu hạn chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu ở 1,5°C hiện gần như ngoài tầm với. Tuy nhiên, giữ mức tăng nhiệt độ thấp hơn đáng kể so với 2°C vẫn có thể thực hiện được, nếu các quốc gia đưa ra những cam kết khí hậu mạnh mẽ hơn.

Khủng hoảng ở Trung Đông đang thúc đẩy các nước nhập khẩu năng lượng tăng tốc phát triển năng lượng sạch và giảm phụ thuộc vào dầu khí. Dù năng lượng tái tạo và điện khí hóa sẽ mở rộng nhanh chóng, tốc độ cắt giảm phát thải hiện vẫn chưa đủ để đưa thế giới đến trung hòa carbon trong nửa đầu thế kỷ XXI.

Nh.Thạch

AFP

Nguồn PetroTimes: https://petrotimes.vn/khung-hoang-trung-dong-day-nhanh-qua-trinh-chuyen-dich-nang-luong-carbon-thap-747001.html