Kích cầu trong một thị trường đang định giá lại niềm tin
Khi giá cả không còn phản ánh đầy đủ chi phí tuân thủ và mức độ tin cậy, thị trường không chỉ méo tín hiệu mà bắt đầu định giá lại chính niềm tin của người mua như một loại chi phí vô hình.

Trong khi trong hệ thống các siêu thị giá trứng hạng trung khoảng 2.500 đồng/trứng thì gần các khu công nghiệp, chợ trời... vẫn xuất hiện loại trứng giá 1.000-1.200 đồng/trứng. Ảnh: H.L
Kích cầu tiêu dùng tiếp tục được xem là một trong những lực đỡ quan trọng của tăng trưởng trong bối cảnh xuất khẩu, đầu tư và sản xuất phục hồi chậm. Nhưng rủi ro lớn hiện nay không còn nằm ở sức mua yếu, mà ở việc giá cả ngày càng mất khả năng phản ánh trung thực chất lượng, chi phí và mức độ tuân thủ.
Khi người tiêu dùng không còn phân biệt được mức giá thấp đến từ hiệu quả sản xuất hay từ việc cắt giảm chuẩn mực, cơ chế giá làm suy yếu vai trò tham chiếu vốn có. Và khi điều đó xảy ra, kích cầu không chỉ là bài toán tăng chi tiêu, mà trở thành câu hỏi thị trường còn đủ nền tảng niềm tin để vận hành quyết định mua hay không.
Khi giá rẻ không còn đồng nghĩa với hiệu quả
Ở một thị trường vận hành bình thường, người mua không cần hiểu toàn bộ chuỗi sản xuất vẫn có thể tin rằng giá cả phản ánh tương đối chi phí và chất lượng phía sau sản phẩm.
Nhưng nền tảng đó đang suy yếu ở nhiều phân khúc hàng hóa phổ thông, đặc biệt trên thương mại điện tử và các kênh phân phối phi chính thức. Cùng một loại hàng hóa, chênh lệch giá ngày càng không đến từ năng suất hay hiệu quả vận hành, mà từ mức độ tuân thủ tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm pháp lý.
Trong ngành thực phẩm, hiện tượng xử lý “cảm quan” để làm sai lệch nhận diện sản phẩm đã nhiều lần bị phản ánh. Tại hội thảo “Khơi thông sức mua, kích cầu tiêu dùng” vào tuần qua, bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TPHCM, cho biết từng có trường hợp thịt heo được xử lý màu sắc để tạo cảm giác giống thịt bò rồi bán ra thị trường với giá thấp hơn đáng kể mặt bằng chuẩn.
Một điểm lệch khác nằm ở ngành trứng gia cầm. Theo bà Lâm Thúy Ái, Tổng giám đốc Mebi Farm, chi phí để sản xuất một quả trứng đạt chuẩn an toàn thực phẩm hiện vào khoảng 2.200-2.400 đồng. Trong khi đó, trên thị trường vẫn tồn tại mức giá khoảng 1.000-1.200 đồng/quả, chủ yếu từ hàng cận hạn hoặc quá hạn bị tách khỏi hệ thống phân phối chính thức để đưa ra kênh phi chính thức.
Điểm đáng chú ý không nằm ở mức chênh lệch, mà ở việc mức giá thấp hơn chi phí sản xuất tối thiểu vẫn có thể lưu thông. Khi đó, giá không còn phản ánh hiệu quả sản xuất, mà phản ánh phần chi phí tuân thủ đã bị tách khỏi cơ chế hình thành giá.
Cùng một loại hàng hóa, chênh lệch giá ngày càng không đến từ năng suất hay hiệu quả vận hành, mà từ mức độ tuân thủ tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm pháp lý.
Thị trường vì thế không còn dừng ở phân biệt rẻ hay đắt, mà bắt đầu phân tách giữa chi phí thật và phần chi phí bị đẩy ra ngoài cấu trúc giá.
Và khi chi phí tuân thủ không còn nằm trong giá bán mà chuyển sang nỗ lực chứng minh sản phẩm đúng chuẩn, thị trường bắt đầu không phải định giá hàng hóa, mà là mức độ an toàn trong từng quyết định mua.
Hiện tượng này lan rộng trên môi trường số, từ mỹ phẩm, thực phẩm chức năng đến đồ gia dụng, nơi sản phẩm thiếu truy xuất nguồn gốc, thiếu công bố hoặc nhái thương hiệu cạnh tranh chủ yếu bằng giá thấp.
Theo TS. Phạm Viết Thuận, thị trường hiện thiếu hệ tiêu chí đủ rõ để phân biệt hàng đạt chuẩn và hàng kém chất lượng. Khi ranh giới này mờ đi, người tiêu dùng không còn khả năng tự phân loại, còn doanh nghiệp phải tự chứng minh sự đúng đắn của mình trong một hệ thống vốn dĩ phải xác nhận điều đó.
Chi phí lớn nhất bắt đầu nằm ở sự an tâm
Cùng với chi phí sản xuất và phân phối, thị trường đang hình thành một lớp chi phí mới là chi phí xác minh niềm tin. Đây là thời gian, công sức và tiền bạc người tiêu dùng phải bỏ ra để phân định đâu là hàng đạt chuẩn, đâu là sản phẩm an toàn, và đâu chỉ là tín hiệu được tạo bằng quảng cáo hoặc tương tác số.
Khi thông tin không còn đủ minh bạch, hành vi tiêu dùng không còn tối ưu theo giá thuần túy mà dịch chuyển sang lựa chọn tạo cảm giác an toàn hơn. Tiêu dùng vì thế không giảm về lượng, nhưng cấu trúc lựa chọn nghiêng dần về thương hiệu quen thuộc, chuỗi bán lẻ lớn và kênh có khả năng kiểm soát chất lượng.
Khảo sát của Công ty Nghiên cứu thị trường NielsenIQ cũng cho thấy người tiêu dùng Việt Nam duy trì trạng thái thận trọng, đồng thời gia tăng ưu tiên cho nguồn gốc và tiêu chuẩn sản phẩm. Các hệ thống bán lẻ như Saigon Co.op và WinMart ghi nhận xu hướng người mua chấp nhận trả giá cao hơn để đổi lấy truy xuất nguồn gốc và mức độ an tâm.
Điểm thay đổi không nằm ở quy mô chi tiêu, mà nằm ở cách niềm tin được phân bổ trong hành vi mua sắm. Khi niềm tin trở thành biến số kinh tế, thị trường bắt đầu định giá sự bất an.
Trong một thị trường mà người mua liên tục phải tự xác minh chất lượng, doanh nghiệp làm đúng cũng phải gánh thêm chi phí chỉ để chứng minh mình không sai. Ông Bông Hoa Việt, Giám đốc Phát triển bền vững Nhựa Bình Minh, cho biết doanh nghiệp nhiều năm đối mặt hàng giả, hàng nhái, với hơn 20 nhãn hiệu gây nhầm lẫn trên thị trường.
Ở trạng thái đó, niềm tin không còn là lợi thế cạnh tranh mà trở thành chi phí vận hành bắt buộc.
Khi thị trường bắt đầu tạo lợi thế cho “né chuẩn”
Điểm lệch nằm ở cấu trúc động lực cạnh tranh. Khi chi phí tuân thủ, truy xuất và minh bạch làm tăng giá thành, trong khi năng lực giám sát chưa theo kịp, doanh nghiệp làm đúng ngày càng khó cạnh tranh với mức giá không phản ánh đầy đủ chi phí thật.
Theo bà Lâm Thúy Ái, tình trạng thua lỗ kéo dài khiến nhiều chủ trang trại buộc phải thu hẹp sản xuất hoặc rời ngành khi bài toán tồn tại ngắn hạn lấn át đầu tư dài hạn.
Thị trường vì thế hình thành hai mặt bằng chi phí song song: một bên tuân thủ đầy đủ tiêu chuẩn và nghĩa vụ pháp lý, bên kia vận hành trên nền chi phí thấp hơn nhờ khoảng trống kiểm soát hoặc giới hạn truy xuất.
Khi hai khu vực cạnh tranh trực tiếp, doanh nghiệp làm đúng không thua vì kém hiệu quả, mà vì phải đối diện với một mức giá đã triệt tiêu một phần chi phí thật.
Khi vấn đề không còn chỉ là kích cầu
Kích cầu chỉ phát huy hiệu lực khi giá cả còn giữ vai trò tham chiếu đáng tin cậy về chất lượng và giá trị hàng hóa.
Nếu không, dòng tiền kích thích tiêu dùng có thể không chảy vào khu vực tạo ra giá trị bền vững, mà dịch chuyển sang khu vực hưởng lợi từ khoảng trống kiểm soát và chi phí thấp bất thường.
Trong bối cảnh hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại gia tăng trên thương mại điện tử, việc siết lại kỷ cương thị trường trở thành điều kiện khôi phục niềm tin tiêu dùng.
Đợt cao điểm kiểm tra, xử lý hàng giả và xâm phạm sở hữu trí tuệ gần đây với yêu cầu không có vùng cấm, không có ngoại lệ cho thấy vấn đề không còn là bảo vệ doanh nghiệp, mà là bảo vệ nền tảng vận hành của thị trường.
Một nền kinh tế khó có thể kích cầu bền vững khi người tiêu dùng phải trả thêm tiền, thời gian và rủi ro chỉ để mua sự an tâm.











