Kiểm toán các chủ trương lớn: Từ kiểm soát nguồn lực đến tháo gỡ điểm nghẽn thể chế
Khi những chủ trương lớn của Đảng và quyết sách của Nhà nước được cụ thể hóa thành chiến lược, quy hoạch, chính sách vĩ mô và các dự án quan trọng quốc gia, thước đo không chỉ là mức độ tuân thủ hay số tiền được kiến nghị xử lý, mà còn là khả năng chuyển hóa nguồn lực thành kết quả phát triển. Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Kiểm toán nhà nước (KTNN) cần phát huy vai trò cung cấp bằng chứng độc lập, khách quan, nhận diện những bất cập mang tính hệ thống và thúc đẩy khắc phục các điểm nghẽn trong quá trình thực thi chính sách.

TS. Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương - tham luận tại Hội thảo.
Từ phát hiện sai phạm đến nhận diện nguyên nhân hệ thống
Trong giai đoạn phát triển mới, nhiều chủ trương lớn của Đảng và quyết sách của Nhà nước được cụ thể hóa thành chiến lược, quy hoạch, chương trình mục tiêu, chính sách vĩ mô và dự án quan trọng quốc gia. Đây là những lĩnh vực huy động nguồn lực lớn, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành và có ảnh hưởng dài hạn đến quá trình phát triển đất nước.
Thách thức không chỉ nằm ở việc ban hành chủ trương đúng, mà còn ở năng lực tổ chức thực hiện, phân bổ và sử dụng nguồn lực, kiểm soát quyền lực, khắc phục hạn chế và đạt được mục tiêu đề ra. Một chủ trương dù có tầm nhìn dài hạn cũng khó tạo ra chuyển biến thực chất nếu thể chế hóa thiếu đồng bộ, nguồn lực phân bổ chưa hợp lý hoặc trách nhiệm thực thi chưa rõ ràng.
Tham luận tại Hội thảo quốc tế “Cơ quan Kiểm toán tối cao trong bối cảnh mới: Tầm nhìn, Thể chế và Đổi mới”, do KTNN tổ chức tại Hà Nội ngày 27/10/2026, TS. Nguyễn Đức Hiển và nhóm nghiên cứu cho rằng, đối với những chính sách sử dụng nguồn lực công lớn, có phạm vi tác động rộng, cần có cơ chế cung cấp thông tin độc lập, khách quan về tiến độ, kết quả và trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Với chức năng kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công, KTNN có thể cung cấp bằng chứng phục vụ đánh giá quá trình triển khai chính sách, nhận diện rủi ro và những bất cập trong cơ chế thực hiện. Đối tượng kiểm toán là quá trình thể chế hóa và tổ chức thực hiện, nhất là những nội dung liên quan đến nguồn lực công, quy hoạch quốc gia, chính sách vĩ mô và dự án quan trọng quốc gia.
Cách tiếp cận này vừa làm rõ vai trò của KTNN, vừa đòi hỏi bảo đảm khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Định hướng chính trị và cơ chế phối hợp cần được phân biệt với hoạt động chuyên môn; việc lựa chọn thủ tục kiểm toán, đánh giá bằng chứng, đưa ra kết luận và kiến nghị phải được thực hiện theo đúng thẩm quyền, bảo đảm độc lập, khách quan.
Giá trị của kiểm toán không chỉ nằm ở số tiền kiến nghị xử lý hay số sai phạm được phát hiện, mà còn ở khả năng nhận diện những bất cập trong cơ chế, chính sách và pháp luật ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn lực công.
Yêu cầu đặt ra là phải đi sâu vào nguyên nhân của các phát hiện kiểm toán: hạn chế trong tổ chức thực hiện, sự thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật hay cơ chế, công cụ chính sách chưa theo kịp thực tiễn. Mỗi nguyên nhân đòi hỏi giải pháp khác nhau, từ chấn chỉnh quy trình, làm rõ trách nhiệm đến kiến nghị sửa đổi chính sách.
Theo nhóm nghiên cứu, cần tăng cường tổng hợp các phát hiện có tính phổ biến, lặp lại hoặc tác động lớn; xác định rõ nội dung cần sửa đổi, cơ quan chịu trách nhiệm và cơ chế theo dõi thực hiện. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế phản hồi từ kết quả kiểm toán đến các cơ quan hoạch định chính sách, để những vấn đề phát sinh trong thực tiễn trở thành căn cứ phục vụ đánh giá, điều chỉnh và hoàn thiện chính sách.
Đây là bước chuyển từ xử lý từng vụ việc sang nhận diện vấn đề mang tính hệ thống. Khi kết quả kiểm toán được phân tích xuyên suốt từ thể chế hóa chính sách, phân bổ nguồn lực, tổ chức thực hiện đến kết quả cuối cùng, KTNN có thể đóng góp sâu hơn vào việc phát hiện điểm nghẽn và nâng cao chất lượng quản trị.

TS. Nguyễn Đức Hiển đề xuất tăng cường vai trò của KTNN đối với bảy nhóm chính sách có ý nghĩa chiến lược và tác động lớn đến sự phát triển đất nước.
Bảy nhóm chính sách cần tăng cường kiểm toán
Tham luận đề xuất tăng cường vai trò của KTNN đối với bảy nhóm chính sách có ý nghĩa chiến lược và tác động lớn đến sự phát triển đất nước.
Thứ nhất, đổi mới mô hình phát triển. Kiểm toán cần xem xét sự nhất quán giữa mục tiêu phát triển với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và ngân sách; hiệu quả đầu tư cho công nghệ chiến lược, dữ liệu, năng lượng mới, hạ tầng và nhân lực; qua đó đánh giá mức độ chuyển hóa nguồn lực thành năng suất và giá trị gia tăng.
Thứ hai, chính sách tài khóa, ngân sách nhà nước, đầu tư công và nợ công. Trọng tâm là hiệu quả phân bổ vốn, chất lượng đầu tư, nghĩa vụ trả nợ và rủi ro tài khóa. Vấn đề không chỉ là vốn được giải ngân bao nhiêu, mà còn là nguồn lực công có tạo ra năng lực sản xuất, động lực tăng trưởng và hiệu quả kinh tế - xã hội tương xứng hay không.
Thứ ba, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cần chuyển trọng tâm từ kiểm tra kinh phí, tài sản sang đánh giá kết quả đầu ra, khả năng ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; đồng thời xem xét hiệu quả đầu tư hạ tầng số, cơ sở dữ liệu và mua sắm công nghệ.
Thứ tư, kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, an ninh năng lượng, tài nguyên và tài sản công. Kiểm toán cần làm rõ hiệu quả quản lý, sử dụng vốn và tài sản nhà nước; tính minh bạch của các chương trình hỗ trợ, ưu đãi, bảo lãnh; hiệu quả các dự án năng lượng, hạ tầng và hợp tác công - tư, cũng như việc xử lý các dự án, tài sản và phần vốn kém hiệu quả.
Thứ năm, văn hóa - xã hội. Trọng tâm là việc sử dụng ngân sách, đất đai và tài sản cho các chương trình, thiết chế văn hóa; hiệu quả khai thác công trình, bảo tồn di sản và mức độ tiếp cận dịch vụ của người dân. Hiệu quả nguồn lực cần được xem xét cả từ góc độ tài chính và giá trị xã hội tạo ra.
Thứ sáu, quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng và dự án quan trọng quốc gia. Cần tăng cường kiểm toán toàn bộ quá trình từ chuẩn bị đầu tư, bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện đến vận hành và đánh giá sau đầu tư; chú trọng các rủi ro về quy hoạch, đất đai, lựa chọn nhà thầu, chậm tiến độ và sử dụng vốn kém hiệu quả.
Thứ bảy, sắp xếp tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, vận hành chính quyền địa phương hai cấp và chính sách an sinh xã hội. Kiểm toán cần làm rõ hiệu quả sử dụng ngân sách, tài sản công sau sắp xếp; trách nhiệm giữa các cấp; năng lực thực thi và chất lượng cung ứng dịch vụ công.
Điểm chung của bảy nhóm chính sách là yêu cầu đặt nguồn lực trong mối quan hệ với mục tiêu, kết quả và tác động. Kiểm toán không nên dừng ở từng khoản chi hay dự án riêng lẻ, mà cần đánh giá hiệu quả thực tế, nguyên nhân của những hạn chế và trách nhiệm của các chủ thể tham gia thực hiện.

Quang cảnh Hội thảo.
Hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu lực kiểm toán
Một đề xuất trọng tâm của tham luận là nghiên cứu, tham mưu Bộ Chính trị ban hành nghị quyết riêng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với KTNN. Theo nhóm nghiên cứu, yêu cầu này gắn với việc đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền và nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách lớn.
Cùng với việc xác định rõ vai trò của KTNN trong kiểm soát quản lý, sử dụng nguồn lực công, cần bảo đảm hoạt động của cơ quan này tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, tôn trọng vị trí độc lập và thẩm quyền chuyên môn, sự giám sát của Quốc hội cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Định hướng nhiệm vụ và phối hợp công tác không đồng nghĩa với can thiệp vào việc đánh giá bằng chứng hay quyết định kết luận chuyên môn.
Về phương thức hoạt động, nhóm nghiên cứu đề xuất chuyển mạnh từ kiểm toán thiên về phát hiện sai phạm riêng lẻ sang đánh giá rủi ro, hiệu lực, hiệu quả và trách nhiệm giải trình; tăng cường kiểm toán chuyên đề, kiểm toán hoạt động theo chuỗi từ thể chế hóa chính sách, phân bổ nguồn lực đến kết quả thực tế.
Cơ chế phối hợp giữa KTNN với các cơ quan trong hệ thống chính trị cũng cần được đổi mới trên cơ sở đúng chức năng, rõ trách nhiệm và chia sẻ thông tin hợp pháp. Mục tiêu là hạn chế trùng lặp, không tạo khoảng trống giám sát, đồng thời nâng cao hiệu lực thực hiện kết luận, kiến nghị và khả năng phản hồi chính sách từ kết quả kiểm toán.
Tham luận đồng thời đề xuất đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực, nhận diện bất cập mang tính hệ thống và cảnh báo rủi ro. Đổi mới công nghệ cần đi cùng chất lượng dữ liệu, năng lực chuyên môn và trách nhiệm giải trình, bảo đảm tính độc lập, khách quan của kết quả kiểm toán.
Từ những đề xuất trên, yêu cầu cốt lõi không phải mở rộng hoạt động kiểm toán vượt ra ngoài chức năng, thẩm quyền, mà là tạo cơ chế để kết quả kiểm toán được chuyển hóa thành hành động khắc phục cụ thể. Mỗi kiến nghị cần gắn với nội dung xử lý, cơ quan chịu trách nhiệm và cơ chế theo dõi; những phát hiện lặp lại hoặc liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp cần được tổng hợp để phục vụ đánh giá, điều chỉnh chính sách.
Giá trị cuối cùng của kiểm toán các chủ trương lớn không chỉ nằm ở số tiền được kiến nghị xử lý, mà còn ở khả năng xác định những yếu tố cản trở mục tiêu phát triển, làm rõ trách nhiệm và thúc đẩy thay đổi bền vững trong cơ chế quản lý. Khi đi từ kiểm soát nguồn lực đến đánh giá hiệu quả, từ phát hiện sai phạm đến nhận diện nguyên nhân hệ thống, KTNN có thể đóng góp thiết thực hơn vào việc tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, tăng cường kỷ luật tài chính và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia./.
