Kỷ niệm 61 năm Hàm Rồng chiến thắng (3, 4/4/1965 - 3, 4/4/2026): Trang sử vàng lấp lánh chiến công
Tháng tư lịch sử, lòng thênh thang, tôi đi trên những con đường, qua bao nếp nhà khang trang, yên ả nơi Hàm Rồng, Nam Ngạn. Chiến công ngày nào như còn vang vọng đâu đây, trên đồi Quyết Thắng uy nghi, sừng sững, trên cầu Hàm Rồng vững chãi, hiên ngang. Tất cả hằn in dấu vết về một thời rực lửa chiến công của quân và dân Thanh Hóa để xây đắp nên tượng đài chiến thắng.

Cầu Hàm Rồng - cây cầu của những ký ức hào hùng. Ảnh: Tố Phương
61 năm kể từ ngày diễn ra “cuộc đụng đầu” lịch sử, bom đạn đã chìm sâu vào lòng sông Mã, nhưng hào khí Hàm Rồng chiến thắng thì mãi như ngọn lửa rạng ngời, thắp sáng một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Nơi đây, trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất năm 1965, chiếc cầu thép mang tên Hàm Rồng được Nhà Trắng và Lầu Năm Góc chọn là mục tiêu quan trọng nhất nên đã “ưu ái” cho Hàm Rồng bằng một kế hoạch đánh phá kỹ lưỡng với mọi thủ đoạn tàn bạo nhất có thể. Phá sập cầu Hàm Rồng, Mỹ sẽ cắt đứt tuyến chi viện Bắc - Nam, đồng thời phá hoại nền kinh tế Thanh Hóa, gây hoang mang về chính trị, gây đình đốn nhiều ngành sản xuất, làm suy yếu vai trò của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến miền Nam.
Trọng điểm đánh phá vào quân khu lúc này được xác định là Thanh Hóa, trọng điểm Thanh Hóa là Hàm Rồng; bảo vệ được cầu Hàm Rồng là góp phần bảo đảm giao thông thông suốt. Bởi thế, sau khi nắm bắt được âm mưu của kẻ thù, các lực lượng tham gia chiến đấu tại khu vực Hàm Rồng được tổ chức thành các cụm hỏa lực. Mỗi cụm đều có khả năng chiến đấu độc lập trên từng hướng và có thể phối hợp chặt chẽ với các đơn vị khác cùng hiệp đồng tác chiến. Quân và dân Hàm Rồng bước vào cuộc chiến mà chưa thể hình dung ra được sự ác liệt tới mức nào, nhưng trong tim khắc sâu lời hiệu triệu của Hồ Chủ tịch “Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Đúng như dự đoán, chiều ngày 3/4/1965, từng tốp máy bay phản lực của đế quốc Mỹ thay nhau bổ nhào bắn phá cầu Hàm Rồng và các vùng phụ cận. Chỉ trong phút chốc, bầu trời Hàm Rồng trở thành “chảo lửa” chiến tranh. Với tâm thế sẵn sàng, chủ động, bằng lối đánh thông minh, sáng tạo cả dưới đất và trên trời, quân dân Thanh Hóa trên khắp các trận địa đã “ngẩng cao đầu mà bắn”. Trong ngày thứ nhất, lưới lửa phòng không nhiều tầng, nhiều lớp của quân và dân ta ở khu vực Hàm Rồng - Nam Ngạn đã bắn rơi 17 máy bay, khiến quân địch không thực hiện được mục tiêu “đánh sập cầu Hàm Rồng trong chớp nhoáng”.
Không cam chịu thất bại, sáng 4/4/1965, Mỹ huy động hàng trăm chiếc máy bay hiện đại “đan lưới lửa” ào ào trút bom đạn xuống mảnh đất nhỏ bé Hàm Rồng. Càng khốc liệt bao nhiêu, tinh thần yêu nước, khí phách anh hùng của quân dân ta càng được nhân lên gấp bội. Thực hiện mệnh lệnh “đánh chắc, đánh trúng, bắn rơi tại chỗ nhiều máy bay địch”, quân ta đã hiên ngang đáp trả bằng những đường đạn chính xác, khiến 30 máy bay Mỹ phải bỏ xác, lập nên một kỳ tích oai hùng trong lịch sử dân tộc và tạo ra “2 ngày đen tối nhất của không lực Mỹ”. “Pháo đài thép” Hàm Rồng đã trở thành nỗi kinh hoàng của giặc Mỹ, khiến những cái đầu “sạn” trận mạc của người Mỹ cũng không tài nào lý giải nổi vì sao họ thất bại dù vũ khí của quân ta không thể đặt ngang hàng với khối lượng vũ khí đồ sộ và tối tân bậc nhất lúc bấy giờ của không quân Hoa Kỳ.
Đất nước đau thương chia cắt, quê hương chìm trong khói lửa đạn bom, thế hệ ngày ấy chỉ có một chân lý sống duy nhất “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Trong cuộc chiến tranh Nhân dân ấy, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi xóm làng là một pháo đài đánh giặc, mỗi đường phố là một mặt trận, mỗi chi bộ đảng là một bộ tham mưu. Những ngôi làng vốn quen nhịp sống thanh bình cũng đều ghi tên mình vào lịch sử bằng những chiến công. Ở làng Đông Sơn, già - trẻ, trai - gái không đi sơ tán mà ở lại cùng ra trận. Ở làng Yên Vực, các nữ dân quân đã băng mình qua lửa đạn đến với từng khẩu đội pháo để cứu thương, tiếp đạn. Các cụ già Nam Ngạn, trong đó có cả nhà sư bình tĩnh nổi lửa nấu cơm tiếp tế cho bộ đội... Từ trong mưa bom, bão đạn đã xuất hiện nhiều tấm gương chiến đấu anh dũng, kiên cường. Trên các trận địa pháo, các chiến sĩ bị bom đạn của địch vùi lấp tiếp tục đứng dậy đánh trả; nhiều chiến sĩ bị thương, trước lúc hy sinh vẫn đạp cò, lấy thân mình kê pháo đánh địch; cô gái nhỏ với thân hình mảnh dẻ vác trên vai khối đạn gấp đôi trọng lượng cơ thể phục vụ chiến đấu... Những hình ảnh tuyệt đẹp ấy đã làm nức lòng Nhân dân cả nước, khiến bạn bè yêu chuộng công lý và hòa bình trên thế giới khâm phục.

Chiến thắng Hàm Rồng không chỉ là niềm tự hào của Nhân dân Thanh Hóa, của dân tộc Việt Nam, đó còn là chiến thắng của đường lối chiến tranh Nhân dân, của ý chí kiên cường, bản lĩnh vững vàng, trí tuệ Việt Nam. Chiến thắng Hàm Rồng đã tiếp thêm niềm tin, ý chí để quân, dân cả nước tiếp tục tiến lên đánh thắng đế quốc Mỹ và tay sai, giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Những người bạn yêu chuộng hòa bình trên thế giới, những người đã từng ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của Nhân dân Việt Nam rất tự hào về chiến thắng Hàm Rồng. Chiến công của quân và dân Hàm Rồng được Bác Hồ khen ngợi, bạn bè quốc tế đánh giá cao. Ông M.Đa-ga-ren, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Mỹ đã từng bày tỏ lòng ngưỡng mộ khi nói về Hàm Rồng: “Cầu Hàm Rồng là chiếc cầu đẹp nhất mà trước đây chúng ta chưa từng thấy, không phải vì nó rộng, nó dài, nó nguy nga hơn các cây cầu khác mà chính truyền thống anh hùng của các chiến sĩ và Nhân dân đã mang lại cho nó cái đẹp kỳ diệu”. Nhà báo Mỹ Richard Swanel sau này cũng đã khẳng định: “Chiếc cầu của các bạn ở Hàm Rồng đã tượng trưng đầy đủ được lòng tha thiết yêu Tổ quốc của Nhân dân Việt Nam, các bạn giành được sự ủng hộ rộng lớn của Nhân dân chúng tôi”.
Hơn 6 thập niên đã qua đi, nhưng khúc tráng ca Hàm Rồng chiến thắng vẫn còn đó, đồng vọng, ngân vang trong dặm dài lịch sử. Để đến hôm nay, tinh thần “Quyết thắng” vẫn tạc sâu vào đá núi và cây cầu Hàm Rồng hiên ngang bắc qua đôi bờ sông Mã đi vào lịch sử như một trang huyền thoại đẹp của dân tộc Việt Nam.












