Ký tự văn hóa vùng cao
Những đường nét trên tấm thổ cẩm, cột gươl hay chuỗi cườm không chỉ là hoa văn trang trí. Đó là những 'ký tự văn hóa' lưu giữ ký ức hàng nghìn năm của cư dân miền núi xứ Quảng, nối liền các nền văn hóa cổ với đời sống đương đại.

Thổ cẩm của đồng bào Cơ Tu được ứng dụng vào đời sống. Ảnh: Xuân Hiền
Từ dấu tích cổ xưa đến bản sắc đại ngàn
Vùng núi Trường Sơn của thành phố Đà Nẵng hôm nay, nơi sinh sống của các tộc người Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ Triêng và Co, được xem là một trong những không gian văn hóa đặc sắc của miền Trung. Điều thú vị là nhiều họa tiết trên trang phục, gươl, cột lễ hay đồ trang sức của đồng bào vẫn mang bóng dáng của những hiện vật khảo cổ thuộc các nền văn hóa cổ như Sa Huỳnh và Đông Sơn.
Nếu trong các bảo tàng, hạt mã não, hạt cườm thủy tinh hay hoa văn trên gốm chỉ còn là những hiện vật tĩnh lặng, thì ở miền núi xứ Quảng, chúng vẫn đang hiện hữu trong đời sống cộng đồng.
Chuỗi cườm của người Giẻ Triêng trở thành của hồi môn, trang sức trong các lễ hội và ngày trọng đại. Với người Cơ Tu, hạt mã não không chỉ thể hiện sự giàu có mà còn là vật gia bảo, vật phẩm tâm linh mang ý nghĩa che chở, may mắn.
Đáng chú ý hơn, hình tượng hạt mã não không dừng lại ở món trang sức mà còn được “chuyển hóa” thành hoa văn trên vải thổ cẩm, cột X’nur và cả gươl, trung tâm sinh hoạt văn hóa của buôn làng. Những đường nét ấy cho thấy một hành trình tiếp nối văn hóa bền bỉ qua nhiều thế kỷ.
Không chỉ có hạt mã não, các mô típ tam giác liên hoàn trên gốm Sa Huỳnh cũng được tìm thấy trên thổ cẩm Cơ Tu, trên các cột tế lễ và kiến trúc nhà gươl. Từ đất nung sang sợi vải, từ hiện vật khảo cổ đến không gian sinh hoạt cộng đồng, hoa văn đã vượt qua giới hạn của chất liệu để trở thành một ngôn ngữ nghệ thuật mang đậm bản sắc Trường Sơn.
Giá trị lớn nhất của hoa văn miền núi xứ Quảng không nằm ở tuổi đời của chúng, mà ở khả năng thích ứng với cuộc sống hiện đại.

Phụ nữ Cơ Tu dệt thổ cẩm. Ảnh: Phương Giang
Câu chuyện về những chiếc trống đồng được phát hiện ở vùng A Xan, nay thuộc thành phố Đà Nẵng, là một ví dụ điển hình. Sau khi được sưu tầm, lưu giữ, hình ảnh trống đồng lại được các nghệ nhân Cơ Tu chạm khắc lên gươl của làng mình. Những mô típ mặt trời, chim muông hay cảnh sinh hoạt được tái hiện theo cách nhìn của cư dân miền núi, hòa quyện với biểu tượng văn hóa truyền thống của tộc người.
Tương tự, chum, chóe - những tài sản quý giá gắn với tín ngưỡng của đồng bào - cũng được cách điệu thành các hình chạm khắc trên ván thưng gươl. Trong quan niệm của người Cơ Tu, chum, chóe không chỉ là vật chứa mà còn là nơi trú ngụ của linh hồn và có vai trò đặc biệt trong các nghi lễ vòng đời. Khi bước vào nghệ thuật tạo hình, chúng trở thành biểu tượng cho sự sung túc, sự kết nối giữa con người với tổ tiên.
Những câu chuyện ấy cho thấy hoa văn miền núi không phải là những hình ảnh vô tri. Mỗi họa tiết đều chứa đựng một lớp ký ức về đời sống, tín ngưỡng và quan niệm thẩm mỹ của cộng đồng.
Sống cùng đương đại
Các giá trị văn hóa truyền thống hiện tại đang được nhìn nhận như một nguồn lực cho công nghiệp văn hóa. Hoa văn thổ cẩm Cơ Tu đã xuất hiện trên các sản phẩm lưu niệm, túi xách, khăn choàng, trang phục biểu diễn và các thiết kế ứng dụng. Nhiều không gian du lịch cộng đồng ở Tây Giang, Đông Giang hay Nam Giang sử dụng hoa văn truyền thống trong kiến trúc, nội thất và sản phẩm trải nghiệm dành cho du khách.
Các nghệ nhân cũng không còn chỉ dệt thổ cẩm phục vụ nhu cầu cộng đồng mà đã kết hợp với các nhà thiết kế để tạo nên những sản phẩm phù hợp với thị trường hiện đại. Những chiếc áo, khăn, ví hay phụ kiện mang họa tiết truyền thống góp phần đưa văn hóa miền núi đến gần hơn với đời sống đô thị.

Hoa văn trên thổ cẩm. Ảnh: Phương Giang
Việc số hóa hoa văn truyền thống, xây dựng cơ sở dữ liệu về họa tiết các dân tộc thiểu số, ứng dụng trong thiết kế đồ họa, quà tặng văn hóa hay các sản phẩm sáng tạo cũng mở ra những hướng đi mới cho việc bảo tồn di sản.
Tuy nhiên, cùng với cơ hội là những thách thức không nhỏ. Nếu chỉ khai thác hoa văn như một yếu tố trang trí mà tách rời bối cảnh văn hóa, các giá trị biểu tượng có nguy cơ bị giản lược. Bởi vậy, việc phát huy di sản cần gắn với nghiên cứu khoa học, với sự tham gia của các nghệ nhân và cộng đồng chủ thể.
Hoa văn miền núi xứ Quảng vì thế không chỉ là di sản của quá khứ mà còn là nguồn cảm hứng cho hiện tại và tương lai. Mỗi đường nét trên tấm thổ cẩm, mỗi hình chạm trên gươl hay mỗi chuỗi cườm truyền đời đều kể một câu chuyện về hành trình của con người Trường Sơn đi qua thời gian.
Và mỗi ngày đi qua, những hoa văn ấy vẫn lặng lẽ tồn tại như một “bảo tàng sống” của đại ngàn. Giữ gìn và làm mới chúng không đơn thuần là bảo tồn một loại hình nghệ thuật dân gian, mà là gìn giữ ký ức văn hóa của miền núi xứ Quảng, để những giá trị ngàn đời tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại và trở thành một phần của bản sắc văn hóa Việt Nam.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/ky-tu-van-hoa-vung-cao-3340705.html











