Ký ức gánh hát tuồng ở xứ Quảng
Tỉnh Quảng Nam, nay là thành phố Đà Nẵng, từng là vùng đất có đời sống tuồng phát triển mạnh, với nhiều gánh hát lưu diễn khắp các làng quê. Những gánh hát như Đức Giáo, Khánh Thọ, Chánh Lơn, Bàn Thạch, Bàu Toa... để lại dấu ấn trong đời sống văn hóa của người dân xứ Quảng. Thời Pháp thuộc, khi mật thám Pháp xuất hiện tại rạp hát, nghệ sĩ Tống Phước Phổ từng hướng dẫn các nghệ sĩ đổi giọng, hát chữ không dấu để qua mắt sự kiểm soát. Đằng sau những câu tuồng cổ là những thông điệp về tinh thần canh tân, ý chí quật cường và khát vọng vùng lên của người dân xứ Quảng.

Hình ảnh các nghệ sĩ hát tuồng Quảng Nam được phục dựng lại. Ảnh: Lê Văn Chương
Tư liệu của Giáo sư Hoàng Châu Ký và Sở Văn hóa-Thông tin tỉnh Quảng Nam xuất bản năm 2002 cho biết, hát tuồng (hát bội) ở Quảng Nam bắt đầu phát triển và đi vào đời sống người dân từ thời vua Lê Thánh Tông mở cõi năm 1471, khi đơn vị hành chính mới là Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam được thành lập. Tại các làng xã nằm bên những dòng sông Thu Bồn, Vu Gia, Trường Giang..., các “chiếu tuồng” được lập để phục vụ cộng đồng vào dịp Tết Nguyên đán, sau mùa gặt hoặc trong các dịp cúng Thành hoàng làng.
Đến đầu thế kỷ XX, hoạt động tuồng ở Quảng Nam ngày càng phát triển. Năm 1913, cụ Nguyễn Hiển Dĩnh lập một rạp hát tại An Quán, quy tụ nhiều diễn viên giỏi; nghệ sĩ từ Bình Định, Quảng Ngãi, Huế cũng thường tìm đến biểu diễn. Trước đó, ông đã có thời gian làm quan và về hưu năm 1908, rồi dành nhiều tâm sức cho việc sáng tác, chỉnh lý và truyền dạy nghệ thuật tuồng.
Cũng theo tài liệu này, năm 1932, trước sự phát triển mạnh của cải lương từ Nam Bộ, ông Phan Văn Đệ (danh ca Chánh Đệ) đã tập hợp các nghệ sĩ tuồng có tên tuổi, hình thành gánh hát Quảng Hiệp Ban. Thời điểm đó, các đoàn cải lương ở Nam Bộ liên tục đưa nghệ sĩ ra miền Trung biểu diễn. Những tên tuổi như Phùng Há, Tám Danh, Năm Phỉ, Năm Châu, Bảy Nam cùng các đoàn Tân Thinh, Phước Cương đã thu hút sự quan tâm của khán giả Quảng Nam.
Sự cạnh tranh ấy đặt nghệ thuật tuồng trước yêu cầu phải giữ được những giá trị truyền thống, đồng thời tìm cách thích ứng với thị hiếu mới. Quảng Hiệp Ban trở thành một trong những gánh hát tiêu biểu của tuồng xứ Quảng thời kỳ này, quy tụ nhiều nghệ sĩ tài danh.
Trong dòng chảy ấy, Nguyễn Hiển Dĩnh (1853-1926) được xem là một trong những người có công lớn trong việc phát triển tuồng ở Quảng Nam. Người kế tục và góp phần đưa nghệ thuật tuồng sang một hướng mới là nghệ sĩ Tống Phước Phổ. Ông từng viết báo, làm thơ và có nhiều đóng góp trong việc đổi mới nội dung, hình thức biểu diễn. Các gánh hát thời đó vừa biểu diễn những vở tuồng truyền thống, vừa khai thác đề tài lịch sử Việt Nam và các nhân vật, tích truyện Trung Hoa như Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử. Những vở như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Võ Hùng Vương, Mạnh Lệ Quân, Chung Vô Diệm... được đưa lên sân khấu, đáp ứng nhu cầu thưởng thức của công chúng.
Giáo sư Hoàng Chương từng viết trong cuốn “Tống Phước Phổ, cây đại thụ tuồng” rằng, Tống Phước Phổ hiểu thị hiếu của người dân và đề cao tinh thần thượng võ dân tộc. Vì vậy, ông tìm cách đưa những yếu tố mới vào tuồng. Chẳng hạn, trong vở “Châu Thương xuống núi”, nhân vật này dành một thời lượng đáng kể để biểu diễn bài Mai Hoa quyền của Bình Định. Đây là bài quyền được thực hiện theo trận đồ hoa mai 5 cánh, gắn với quan niệm về ngũ hành và ngũ đức của người học võ. Võ sư Trịnh Đông Sơn, quê ở tỉnh Quảng Ngãi, từng kể lại rằng, hồi nhỏ, ông mê tuồng và bài võ Mai Hoa quyền. Sau này, ông đi học võ, vào bộ đội và được biên chế vào lực lượng đặc công.
Để làm mới tuồng cổ, Tống Phước Phổ đưa thêm những làn điệu mới vào sân khấu, trong đó có xuân nữ, hòa với các làn điệu nam ai của miền Trung. Các làn điệu cổ của tuồng như nam bình, khách, tẩu, than, oán vẫn được giữ lại. Sự kết hợp giữa yếu tố truyền thống và những cách tân mới giúp các vở diễn gần hơn với đời sống đương thời. Những đoạn diễn cao trào thường nhận được sự hưởng ứng của khán giả. Trong đó, có những câu hát thể hiện tinh thần mạnh mẽ, khơi dậy ý chí và khát vọng của con người. Chính những nội dung ấy cũng khiến các sáng tác của Tống Phước Phổ lọt vào tầm ngắm của mật thám Pháp. Những vở tuồng mới do ông sáng tác phải qua kiểm duyệt trước khi được đưa lên sân khấu.
Vở “Cờ trắng rừng xanh”, khi tổ chức diễn vào năm 1943, cũng bị mật thám Pháp theo dõi, kiểm tra. Theo hồi ức được lưu truyền, khi mật thám xuất hiện, các nghệ sĩ tìm cách đổi giọng, hát lơ lớ, biến những từ có dấu thành không dấu để tránh sự kiểm soát. Tuy nhiên, cách ứng phó ấy không giúp gánh hát tránh được sự đàn áp. Gánh hát bị cấm diễn 1 tháng, không được lưu diễn ở Huế, Quảng Ngãi, chỉ được diễn ở một số vùng nông thôn của Quảng Nam. Cuối cùng, gánh hát tan rã. Những nghệ sĩ còn gắn bó với nghề như Tống Phước Phổ, Nguyễn Lai, Ngô Thị Liễu, Nguyễn Thị Thanh, Hồ Hữu Ky, Trần Thị Mỹ, anh Cả Ân... tìm cách duy trì hoạt động tuồng.
Trước nhu cầu của công chúng và mong muốn giữ nghề, các nghệ sĩ tiếp tục tổ chức những gánh hát mới. Trong đó, Tống Phước Phổ cùng nghệ sĩ Nguyễn Lai, Ngô Thị Liễu tham gia thành lập gánh hát Tân Thành Ban. Gánh hát vừa biểu diễn, vừa chú trọng đào tạo lớp diễn viên trẻ để nối nghiệp. Để có lực lượng kế cận, các nghệ sĩ đã truyền dạy cho 15 diễn viên trẻ là con em của đoàn hát tuồng. Nghệ sĩ Tống Phước Phổ chỉ đạo chung, dạy chữ Nho, thơ ca; Lê Hành dạy văn hóa; Nguyễn Nho Trang dạy võ thuật và múa tuồng; Nguyễn Lai dạy nghệ thuật biểu diễn.

Cán bộ Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng sân khấu hóa nội dung tuyên truyền về Ngày Biên phòng toàn dân, phòng, chống khai thác IUU, trong đó, sử dụng nhiều làn điệu tuồng xứ Quảng. Ảnh: Lê Văn Chương
Tháng 8/1945, Tổng khởi nghĩa giành chính quyền diễn ra trên cả nước. Các nghệ sĩ trong gánh hát tản về các địa phương, tham gia công tác xã hội và hoạt động phục vụ kháng chiến. Đến năm 1954, một số nghệ sĩ tập kết ra miền Bắc, hoạt động tuồng ở Quảng Nam vì thế có những thay đổi lớn.
Trong kháng chiến chống Mỹ, nghệ thuật tuồng được tổ chức lại để phục vụ đồng bào và chiến sĩ. Ngày 21/7/1967, Đoàn tuồng Giải phóng Quảng Nam được thành lập tại căn cứ cách mạng xã Tiên Lãnh, huyện Tiên Phước. Đoàn tổ chức biểu diễn những vở tuồng về lịch sử Việt Nam như Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản ra quân, Lam Sơn khởi nghĩa. Năm 1970, đoàn được đưa ra miền Bắc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và sau đó đổi tên thành Đoàn tuồng Giải phóng Khu V, còn gọi là Đoàn tuồng Liên khu V.
Nghệ sĩ Tống Phước Phổ tiếp tục gắn bó với sân khấu tuồng cách mạng. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông tham gia hoạt động kháng chiến và cùng các nghệ sĩ góp phần xây dựng Đoàn tuồng Liên khu V, tiền thân của Nhà hát tuồng Đào Tấn ở Bình Định. Trong suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật, ông sáng tác và chỉnh lý nhiều kịch bản tuồng, trở thành một trong những tác giả có đóng góp lớn cho sân khấu tuồng Việt Nam. Ông làm thơ và để lại nhiều câu chữ được giới văn nghệ sĩ nhắc nhớ về cuộc đời gắn với sân khấu: “Tuồng đời bao lớp, trải bao năm/ Ôn lại sao cho khỏi lỗi lầm/ Son phấn thẹn soi gương nghệ sĩ/ Tiếng hơi xa vắng, bạn đồng tâm...”.
Giáo sư Hoàng Chương, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí Sân khấu và Điện ảnh viết rằng, Tống Phước Phổ là một trong những cây đại thụ của ngành tuồng, với hơn 100 vở tuồng và nhiều tác phẩm chỉnh lý, chuyển thể. Những sáng tác của ông mang đậm tinh thần yêu nước, góp phần đưa tuồng đến gần hơn với đời sống xã hội đương thời.
Trong cuốn sách “Tuồng Quảng Nam”, do Sở Văn hóa-Thông tin Quảng Nam xuất bản năm 2001, phần giới thiệu viết: “Tính bi hùng của tuồng hướng con người đến trung-hiếu-tiết-nghĩa, trọn đạo làm người, ân oán phân minh, nghĩa tình trọn vẹn”. Những giá trị ấy giải thích vì sao tuồng từng có sức sống lâu bền trong đời sống tinh thần của người dân xứ Quảng.
Từ những chiếu tuồng ở làng quê đến các gánh hát lưu diễn khắp vùng, nghệ thuật tuồng xứ Quảng đã trải qua nhiều thăng trầm, biến động nhưng chưa bao giờ mất đi bản sắc. Ký ức về những gánh hát năm xưa không chỉ là câu chuyện của một bộ môn nghệ thuật, mà đã hóa thành một phần hồn cốt, mạch nguồn văn hóa bền bỉ của đất và người Quảng Nam-Đà Nẵng hôm nay.
Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/ky-uc-ganh-hat-tuong-o-xu-quang-post506611.html

