Làm chủ công nghệ vật liệu, cơ khí: 'Chìa khóa' để nền kinh tế tự lập, tự cường
Làm chủ công nghệ về vật liệu và cơ khí chế tạo không chỉ tạo nền tảng cho sản xuất trong nước mà còn là 'chìa khóa' nâng cao năng lực tự chủ, tự cường của nền kinh tế.
Hai “trụ cột” nền tảng của nền công nghiệp quốc gia
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã xác lập nhiệm vụ quan trọng đối với phát triển ngành công nghiệp Việt Nam, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ nâng cao năng lực sản xuất các ngành công nghiệp chiến lược, tiến tới tự chủ, tự cường về nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, nguồn nhân lực và khoa học công nghệ gắn với tăng cường vị thế, vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu. Ưu tiên phát triển, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất trong một số ngành công nghiệp mới nổi như công nghiệp chip bán dẫn, công nghiệp robot và tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến, công nghiệp sinh học, công nghiệp môi trường, năng lượng tái tạo, năng lượng mới...
Tại Thông báo số 66-TB/VPTW ngày 25/5/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng thông báo kết luận ý kiến của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với các cơ quan về phát triển công nghiệp vật liệu cũng khẳng định rõ: công nghiệp vật liệu phải được xác định là ngành công nghiệp nền tảng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; là yếu tố đầu vào, điều kiện tiên quyết phục vụ phát triển các lĩnh vực thiết yếu, các sản phẩm công nghệ chiến lược và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường.
Để hiện thực hóa khát vọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đảm bảo an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới, việc làm chủ công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo không còn là lựa chọn mà là yêu cầu cấp thiết mang tính chiến lược. Đây chính là hai “trụ cột” nền tảng quyết định năng lực nội sinh, sức cạnh tranh và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong báo cáo tham luận gửi Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Bộ Công Thương khẳng định công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo là hai bộ phận không thể tách rời, đóng vai trò “xương sống” cho toàn bộ nền kinh tế. Nếu công nghiệp vật liệu tạo ra “đầu vào chiến lược” cho sản xuất, xây dựng, năng lượng và quốc phòng, thì công nghiệp cơ khí, chế tạo chính là “năng lực thực hiện”, biến các thiết kế, công nghệ và vật liệu thành máy móc, thiết bị và hệ thống sản xuất hoàn chỉnh.
Mức độ phát triển của hai ngành này phản ánh trực tiếp năng lực tự chủ công nghiệp và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động địa chính trị toàn cầu. Thực tiễn cho thấy, bất kỳ quốc gia nào muốn vươn lên thành nước công nghiệp phát triển đều phải nắm giữ và làm chủ được các loại vật liệu nền tảng, vật liệu chiến lược và năng lực cơ khí chính xác.
Đối với Việt Nam, phát triển công nghiệp vật liệu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia và thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việt Nam có tiềm năng đáng kể về nhiều loại khoáng sản quan trọng như bauxite, đất hiếm, titan, vonfram, graphit và một số khoáng sản kim loại khác. Đây là những tiền đề quan trọng để hình thành các chuỗi giá trị công nghiệp hoàn chỉnh từ khai thác - tuyển khoáng - luyện kim - hóa chất - sản xuất vật liệu - cơ khí chế tạo - sản phẩm cuối cùng.

Công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo là hai bộ phận không thể tách rời, đóng vai trò “xương sống” cho toàn bộ nền kinh tế. Ảnh: Minh Quang
Trong khi đó, đối với ngành công nghiệp cơ khí, Bộ Công Thương cho rằng, không có năng lực cơ khí, chế tạo đủ mạnh thì khó có thể nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, chủ động trong đầu tư công nghiệp, bảo trì - vận hành các hệ thống thiết bị lớn và làm chủ công nghệ sản xuất. Cơ khí, chế tạo vì vậy cần được tiếp cận không chỉ như một ngành sản xuất đơn lẻ, mà là “năng lực công nghiệp lõi” để hình thành năng lực tự chủ quốc gia về thiết bị, dây chuyền, công nghệ sản xuất và năng lực triển khai các dự án quy mô lớn.
“Công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo không nên phát triển tách rời. Vật liệu mới chỉ tạo ra giá trị cao khi được đưa vào thiết kế, chế tạo và sản xuất sản phẩm cụ thể; ngược lại, cơ khí, chế tạo muốn nâng cấp lên trình độ cao phải có nguồn vật liệu đạt chuẩn, ổn định, có khả năng truy xuất, kiểm định và đáp ứng yêu cầu kỹ thuật quốc tế", báo cáo của Bộ Công Thương nêu rõ.
Hướng tới làm chủ công nghệ nền
Dù đã đạt được những kết quả nhất định, song nhìn thẳng vào thực tiễn, Bộ Công Thương cho rằng nội lực ngành công nghiệp của Việt Nam vẫn tồn tại nhiều điểm nghẽn cần sớm tháo gỡ.
Thứ nhất, năng lực tự chủ về vật liệu chiến lược và vật liệu mới còn hạn chế. Phần lớn sản xuất hiện nay vẫn tập trung ở các loại vật liệu thông dụng, giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, các loại vật liệu kỹ thuật cao phục vụ các ngành công nghệ mũi nhọn như bán dẫn, điện tử, robot, hàng không, điện hạt nhân và quốc phòng vẫn đang phụ thuộc đáng kể vào nguồn nhập khẩu.
Thứ hai, chuỗi giá trị từ tài nguyên đến sản phẩm cuối cùng còn thiếu sự liên kết. Việt Nam có tiềm năng khoáng sản quan trọng như bauxite, đất hiếm, titan... nhưng năng lực chế biến sâu, luyện kim và sản xuất vật liệu chức năng vẫn còn ở mức khiêm tốn.
Thứ ba, trình độ công nghiệp cơ khí còn phân tán. Quy mô doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và vừa, năng lực thiết kế lõi và tích hợp hệ thống còn yếu. Hiện tại, ngành cơ khí trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng gần 1/3 nhu cầu thị trường, để lại một khoảng trống rất lớn cho nhập khẩu.

Bộ Công Thương đề xuất, quản lý phát triển ngành công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo theo "chuỗi năng lực công nghiệp" tích hợp. Ảnh: Hải Đăng
Để giải quyết căn cơ các tồn tại, Bộ Công Thương đề xuất chuyển đổi mạnh mẽ tư duy phát triển: Từ quản lý các “ngành riêng lẻ” sang xây dựng “chuỗi năng lực công nghiệp” tích hợp. Theo đó, vật liệu mới chỉ tạo ra giá trị khi được đưa vào thiết kế và chế tạo sản phẩm cụ thể; ngược lại, muốn nâng tầm cơ khí thì phải có nguồn vật liệu đạt chuẩn, ổn định và có khả năng truy xuất.
Đồng thời, Bộ Công Thương cũng đề xuất, đối với ngành công nghiệp vật liệu nền tảng cho chế tạo, ưu tiên thép chất lượng cao, thép hợp kim, hợp kim nhôm, đồng, niken để phục vụ cơ khí chính xác, đóng tàu, năng lượng và quốc phòng.
Đối với ngành vật liệu cho công nghệ cao, tập trung vào vật liệu nền, vật liệu siêu sạch cho công nghiệp bán dẫn, AI, điện tử và hạ tầng số. Cùng với đó, kiến tạo hệ sinh thái năng lượng mới, phát triển vật liệu cho pin lưu trữ, điện cực, vật liệu chịu nhiệt phục vụ điện gió ngoài khơi, năng lượng mặt trời và điện hạt nhân. Ngoài ra, ưu tiên chế tạo thiết bị, kết cấu cho đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, năng lượng tái tạo và thiết bị nông nghiệp hiện đại.
Nhằm tạo cú hích cho hai ngành này, Bộ Công Thương cũng kiến nghị, chính phủ xác định cần có những chính sách đủ mạnh, đủ dài hạn và có trọng tâm, trọng điểm. Trong đó ưu tiên xây dựng các cơ chế đặc thù để sử dụng các dự án đầu tư công, dự án chiến lược quốc gia làm “đơn hàng công nghiệp” cho doanh nghiệp trong nước. Việc quy định tỷ lệ nội địa hóa phù hợp và khuyến khích liên danh giữa nhà thầu quốc tế với doanh nghiệp Việt Nam sẽ giúp chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung ứng nội địa.

Nâng cao năng lực làm chủ công nghệ vật liệu, cơ khí chế tạo tạo sức bật cho nền kinh tế. Ảnh: Hải Đăng
Ông Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí, Bộ Công Thương đề xuất, cần thiết có một Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế thí điểm tạo thị trường cho doanh nghiệp cơ khí Việt Nam trong các dự án ưu tiên thuộc các lĩnh vực trọng điểm. Mục tiêu là phá vỡ vòng luẩn quẩn “năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu”; đồng thời, biến các dự án lớn của quốc gia thành đơn hàng thực tế cho doanh nghiệp trong nước; tạo động lực đầu tư vào thiết kế, tích hợp hệ thống, thử nghiệm, chứng nhận và quản trị dự án.
Cũng theo Viện trưởng Phan Đăng Phong, trong bối cảnh thế giới đang chuyển dịch mạnh mẽ sang kinh tế xanh và kinh tế số, việc làm chủ hai ngành “xương sống” này không chỉ giúp Việt Nam đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh quốc phòng mà còn là tiền đề để đất nước vươn mình, trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị công nghệ cao toàn cầu.
Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa đến năm 2035 lên 35-40% đối với điện tử, 50% đối với cơ khí chế tạo, 32-40% đối với ô tô, 70% đối với dệt may và 70% đối với da giày, qua đó tạo thêm khung chính sách để thúc đẩy liên kết giữa công nghiệp vật liệu, cơ khí, chế tạo và các ngành sản xuất hạ nguồn.











