Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu
Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Sáng 17/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về việc tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng. Tránh khoảng trống trong phòng, chống rửa tiền đối với tài sản mã hóa.
Bổ sung các trường hợp ngoại lệ được sử dụng ngoại hối
Trình bày tờ trình tại phiên họp, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho hay, trên cơ sở ý kiến của các đại biểu Quốc hội và ý kiến thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và Tài chính, Chính phủ đã tiếp thu, chỉnh lý một số nội dung của dự thảo Luật.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn trình bày tại Quốc hội. Ảnh: Quochoi.vn
Về nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, để bảo đảm bao quát các trường hợp đã được quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ điều chỉnh khoản 3 Điều 1 dự thảo Luật theo hướng bổ sung các trường hợp ngoại lệ được phép sử dụng ngoại hối “theo quy định của Luật, Nghị quyết của Quốc hội”.
Về thu, chi tài chính của Ngân hàng Nhà nước, dự thảo bổ sung nội dung giao Chính phủ quy định cơ chế trích lập dự phòng rủi ro của Ngân hàng Nhà nước tại khoản 6 Điều 1 dự thảo Luật.
Liên quan đến Luật Phòng, chống rửa tiền, báo cáo cho biết ngày 24/7/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP về các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xử lý khó khăn, vướng mắc trong pháp luật về phòng, chống rửa tiền, đáp ứng yêu cầu cấp bách trong thực hiện cam kết quốc tế về trao đổi thông tin theo yêu cầu về thuế.
Để bảo đảm tính thống nhất, liên tục sau khi nghị quyết này hết hiệu lực thi hành và phù hợp với khuyến nghị của các chuyên gia, Chính phủ điều chỉnh một số nội dung tại khoản 7 và khoản 11 Điều 2 dự thảo Luật. Một số nội dung khác tại khoản 8 Điều 1 và khoản 1, khoản 4, khoản 5, khoản 8 Điều 2 cũng được chỉnh lý về kỹ thuật.
Theo Chính phủ, việc ban hành Nghị quyết số 66.23/2026/NQ-CP không làm thay đổi phạm vi, chính sách của dự án Luật đang trình Quốc hội; trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành nghị quyết được thực hiện theo đúng quy định.
Giải trình thêm về việc thu thập thông tin để lập, theo dõi và phân tích trạng thái đầu tư của Việt Nam, Thống đốc Phạm Đức Ấn khẳng định nội dung này bảo đảm không gia tăng chi phí, khai thác tối đa thông tin có sẵn, không thu thập thông tin cụ thể của các cá nhân, tổ chức và không chồng chéo chức năng về đầu tư của Bộ Tài chính.
Việc phân cấp, phân quyền tại dự thảo Luật được thực hiện trên nguyên tắc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước; thể chế hóa tinh thần hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đối với cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, theo Chính phủ, các nội dung sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Luật bảo đảm phù hợp với chức năng quản lý nhà nước và tài chính đặc thù của Ngân hàng Nhà nước, cũng như thông lệ quốc tế về hoạt động của ngân hàng trung ương.
Về việc bãi bỏ quy định liên quan đến chức năng kiểm tra, quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước của Bộ Tài chính tại Luật Ngân hàng Nhà nước, Chính phủ giải trình việc này không ảnh hưởng đến thực hiện chức năng kiểm tra chuyên ngành của Bộ Tài chính. Pháp luật hiện hành đã có các cơ chế giám sát khác thay thế như Kiểm toán nhà nước, Thanh tra Chính phủ, kiểm toán nội bộ và kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Nhà nước.
Không tạo khoảng trống trong quản lý dự trữ ngoại hối
Tại báo cáo thẩm tra, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính cơ bản tán thành các phương án chỉnh lý dự thảo Luật theo đề xuất của Chính phủ.
Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục rà soát, nghiên cứu, tiếp thu tối đa các ý kiến hợp lý và giải trình đầy đủ, thuyết phục; bảo đảm tính thống nhất trong nội tại Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Phòng, chống rửa tiền và Luật Các tổ chức tín dụng.
Các nội dung sửa đổi, bổ sung cũng cần được rà soát với các luật khác có liên quan và các dự thảo luật đang trình Quốc hội. Cơ quan chủ trì soạn thảo phải khẩn trương hoàn thiện, ban hành các văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành Luật.
Về nguyên tắc sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị tiếp tục hoàn thiện văn bản hướng dẫn thi hành Luật, quy định cụ thể các trường hợp được sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.
Đối với cơ chế tài chính của Ngân hàng Nhà nước, cơ quan thẩm tra đề nghị rà soát các quy định về thu, chi tài chính, kết quả tài chính và các quỹ, bảo đảm phù hợp với pháp luật về ngân sách nhà nước.
Đồng thời, cần nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro không còn, Chính phủ cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch chi lớn hơn thu của Ngân hàng Nhà nước.

Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và Tài chính Đoàn Thị Thanh Mai trình bày báo cáo thẩm tra. Ảnh: Quochoi.vn
Đối với thẩm quyền áp dụng một hoặc một số tỷ lệ bảo đảm an toàn khác so với mức quy định để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị quy định rõ trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước khi xem xét, quyết định.
Dự thảo cần làm rõ các trường hợp, đối tượng, điều kiện, tiêu chí, phạm vi, thời hạn áp dụng; trình tự, thủ tục, lộ trình bảo đảm tuân thủ mức quy định; thủ tục công khai và chế độ báo cáo; cơ chế kiểm soát rủi ro, kiểm tra, giám sát và chế tài khi không thực hiện đúng lộ trình.
Cơ quan thẩm tra cũng đề nghị làm rõ cơ chế kiểm soát độc lập thay thế, bảo đảm không tạo khoảng trống trong kiểm tra việc thực hiện nghiệp vụ in, đúc, tiêu hủy tiền và quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước.
Về sửa đổi Luật Phòng, chống rửa tiền, Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính đề nghị có quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện các nội dung được sửa đổi, bổ sung, đặc biệt là các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa.
Cùng với đó, cần phân định rõ trách nhiệm của cơ quan thực hiện chức năng phòng, chống rửa tiền và đối tượng báo cáo; rà soát quy định về trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ, các bộ, ngành trong thanh tra hoạt động phòng, chống rửa tiền.
Dự thảo và các văn bản hướng dẫn phải thể hiện rõ cơ quan nào có trách nhiệm thanh tra hoạt động phòng, chống rửa tiền đối với đối tượng báo cáo thuộc lĩnh vực tài sản mã hóa, không để xảy ra khoảng trống hoặc chồng chéo trách nhiệm giữa các cơ quan.
