Làng nghề trước bài toán nhân lực trẻ: Nỗi lo đứt mạch truyền nghề
Khi người trẻ có nhiều lựa chọn nghề nghiệp với thu nhập ổn định và môi trường làm việc hiện đại hơn, những nghề thủ công đòi hỏi nhiều năm học nghề, sự kiên trì và tính tỉ mỉ đang dần mất đi sức hút. Bài toán lớn của các làng nghề hôm nay vì thế không chỉ là giữ nghề, mà còn là giữ được người.
Đơn hàng còn nhưng vắng người học nghề
Trong căn nhà nhỏ của Nghệ nhân ưu tú Hoàng Thị Khương ở làng nghề thêu Quất Động (xã Thượng Phúc, thành phố Hà Nội), tiếng kim lướt trên mặt vải vẫn đều đặn giữa buổi trưa yên tĩnh. Hơn 50 năm gắn bó với nghề thêu truyền thống cũng là chừng ấy thời gian bà chứng kiến những đổi thay của làng nghề từng nổi tiếng khắp cả nước với những tác phẩm thêu tinh xảo.
Nếu trước đây, gần như gia đình nào trong làng cũng có người ngồi bên khung thêu, nghề được truyền từ đời này sang đời khác như một lẽ tự nhiên, thì nay khung cảnh ấy đã thưa vắng hơn rất nhiều.

Nghệ nhân ưu tú Hoàng Thị Khương đã có hơn 50 năm gắn bó với nghề thêu tranh truyền thống tại làng Quất Động
Nhắc đến câu chuyện truyền nghề, bà không nói ngay về kỹ thuật, cũng không kể về những bức tranh từng được khách nước ngoài đặt làm hay những tác phẩm từng mang đi triển lãm. Điều bà nhắc đến đầu tiên lại là con người.
"Ngày trước nhà nào cũng làm nghề. Trẻ con lớn lên là biết cầm kim, biết thêu. Bây giờ vẫn còn người làm nhưng ít hơn nhiều rồi. Chủ yếu vẫn là những người lớn tuổi như chúng tôi", Bà Khương chia sẻ.
Ngay trong gia đình mình, bà Khương cũng không đặt áp lực con cháu phải tiếp tục nghề truyền thống. Theo bà Khương, người cháu gái vừa hoàn thành kỳ thi tốt nghiệp THPT vẫn tranh thủ ghé xưởng phụ bà một lúc rồi lại tất bật tìm hiểu thông tin tuyển sinh đại học.
"Tôi vẫn bảo cháu ra học nghề để biết nghề của ông bà mình thế nào. Còn sau này học gì, làm gì là tương lai của cháu. Không thể bắt được. Các cháu còn phải học, còn phải có công việc phù hợp với cuộc sống của mình".
Nhưng cũng chính sự thấu hiểu ấy khiến quá trình chuyển giao nghề truyền thống ngày càng trở nên mong manh.
Suốt nhiều năm qua, bà Khương vẫn lặng lẽ dạy nghề miễn phí cho những người có nhu cầu học. Có người từ địa phương khác tìm đến, có người là lao động khuyết tật, có người mang theo hy vọng kiếm một nghề để mưu sinh. Điều kiện bà đưa ra rất đơn giản: chỉ cần thực sự muốn học. Thế nhưng, giữ được người học còn khó hơn dạy họ cầm kim.
"Năng khiếu chỉ là một phần thôi. Quan trọng nhất là phải yêu nghề. Muốn nghề yêu mình thì trước hết mình phải yêu nghề".

Mỗi tác phẩm tranh thêu đều được hoàn thiện bằng hàng nghìn đường kim, đòi hỏi sự kiên trì và kỹ thuật mà máy móc khó có thể thay thế
Điều đáng nói là, khác với nhiều giai đoạn khó khăn trước đây, các cơ sở thêu ở Quất Động không phải không có việc làm. Đơn hàng vẫn có, nhất là những sản phẩm cao cấp đòi hỏi kỹ thuật thủ công tinh xảo mà máy móc chưa thể thay thế. Khách hàng trong nước vẫn tìm đến, thị trường quốc tế vẫn dành sự quan tâm cho những sản phẩm mang dấu ấn thủ công Việt Nam. Bài toán đặt ra vì thế không còn nằm ở đầu ra của sản phẩm, mà ở đầu vào của nguồn nhân lực.
Khoảng trống của lớp kế cận
Nếu ở Quất Động, nỗi trăn trở được thể hiện qua những khung thêu ngày một vắng bóng người trẻ thì tại làng nghề sơn mài Hạ Thái (xã Hồng Vân, Hà Nội), câu chuyện ấy cũng đang lặp lại theo một cách khác. Mùi sơn ta vẫn phảng phất trong các xưởng sản xuất, những tấm vóc vẫn được mài nhẵn trước khi phủ từng lớp sơn, còn những bức tranh sơn mài vẫn đều đặn hoàn thiện để kịp các đơn đặt hàng trong nước và xuất khẩu. Thế nhưng, phía sau nhịp lao động tưởng như không đổi ấy là nỗi lo về một khoảng trống ngày càng lớn của lực lượng kế cận.
Gần 60 năm gắn bó với nghề, Nghệ nhân ưu tú Vũ Huy Mến là một trong những người dành nhiều tâm huyết cho việc gìn giữ và truyền dạy nghề sơn mài truyền thống của Hạ Thái. Theo ông, trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của nền kinh tế, nghề sơn mài vẫn chứng minh được sức sống riêng nhờ giá trị văn hóa và tính độc bản của mỗi sản phẩm. Chính vì vậy, điều khiến ông trăn trở chưa bao giờ là câu chuyện đầu ra.

Gàn 60 năm gắn bó với nghề sơn mài, Nghệ nhân ưu tú Vũ Duy Mến luôn trăn trở về khoảng trống của lớp nghệ nhân kế cận
"Sơn mài Việt Nam vẫn có thị trường của nó. Những sản phẩm làm bằng tay, có giá trị nghệ thuật thì khách vẫn tìm đến. Cái chúng tôi lo nhất là người làm nghề ngày càng ít".
Theo ông Mến, nhiều năm gần đây, không ít chương trình hỗ trợ đào tạo nghề đã được triển khai với kỳ vọng tạo nguồn nhân lực kế cận cho các làng nghề truyền thống. Bản thân ông cũng nhiều lần tham gia giảng dạy trong các lớp truyền nghề được địa phương và các đơn vị chuyên môn tổ chức. Thế nhưng, kết quả thu được lại khiến ông không khỏi chạnh lòng.
"Có đợt mở lớp truyền nghề miễn phí, học xong còn được cấp chứng chỉ. Chỉ cần đủ khoảng 20 học viên là mở lớp được, nhưng cuối cùng chỉ có bốn người đăng ký nên đành phải dừng", ông Mến ngậm ngùi chia sẻ.
Con số bốn học viên không chỉ khiến một lớp học không thể khai giảng mà còn phản ánh nghịch lý của nhiều làng nghề hiện nay. Trong khi nghệ nhân vẫn sẵn sàng truyền dạy, chính quyền địa phương vẫn quan tâm tổ chức các lớp đào tạo và thị trường vẫn có nhu cầu đối với sản phẩm thủ công chất lượng cao thì lực lượng lao động trẻ lại ngày càng thưa vắng.
Rào cản lớn nhất không nằm ở điều kiện học nghề hay chi phí đào tạo, mà ở việc người trẻ khó chấp nhận dành nhiều năm để theo đuổi một công việc đòi hỏi quá trình lâu dài để đạt được kết quả, trong khi ngoài kia luôn có những lựa chọn mang lại nguồn thu ổn định hơn ngay từ những tháng đầu tiên.
Khi được hỏi rằng liệu con cháu trong nhà có nối nghiệp truyền thống hay không, ông Mến không khỏi đau lòng khi phải thừa nhận rằng khả năng gia đình ông sẽ mất nghề vì các cháu đã không còn thiết tha với nghề sơn mài và có nhiều dự định khác.

Theo Nghệ nhân ưu tú Vũ Duy Mến, một sản phẩm sơn mài truyền thống phải trải qua hàng chục công đoạn thủ công mới hoàn thiện
Điều ông Mến chia sẻ cũng là thực tế mà Nghệ nhân Nguyễn Thị Hồi – Giám đốc Hợp tác xã sơn mài Hạ Thái, Chủ tịch Hội làng nghề sơn mài thôn Hạ Thái, xã Hồng Vân, thành phố Hà Nội, người đã có hơn 50 năm gắn bó với nghề sơn mài Hạ Thái, chứng kiến suốt nhiều năm qua. Bà nhớ lại, khi mới 17 tuổi đã bắt đầu học nghề từ những công việc đơn giản nhất như cắt khảm trai, làm vóc rồi mới dần tiếp cận các kỹ thuật khó hơn. Với thế hệ của bà, việc học nghề diễn ra một cách tự nhiên vì cuộc sống khi ấy gắn chặt với làng nghề. Học hết buổi ở trường, những đứa trẻ lại trở về nhà phụ giúp cha mẹ, vừa làm vừa học từng công đoạn sản xuất.
"Ngày xưa học nửa buổi nên về nhà còn có thời gian làm nghề. Bây giờ các cháu học cả ngày, rồi còn học thêm, có nghỉ hè thì cũng chỉ phụ bố mẹ được một chút chứ bảo theo nghề thì khó".
Theo bà Hồi, máy móc ngày nay đã hỗ trợ một số công đoạn nhằm giảm sức lao động và tăng năng suất, nhưng đó chỉ là những phần việc mang tính cơ học. Những công đoạn quyết định giá trị của một sản phẩm sơn mài truyền thống vẫn không thể thay thế bằng công nghệ.
"Nếu đã là sơn mài truyền thống thì bắt buộc phải vẽ tay. Máy chỉ hỗ trợ được một số việc thôi, còn cái hồn của sản phẩm vẫn nằm ở đôi bàn tay người thợ".
Chính vì vậy, câu chuyện thiếu lao động trẻ không đơn thuần là thiếu nhân công, mà còn là nguy cơ thiếu những người đủ thời gian và sự kiên nhẫn để tiếp nhận toàn bộ hệ thống kỹ năng được tích lũy qua nhiều thế hệ. Khi mỗi nghệ nhân đều sở hữu những bí quyết riêng về pha sơn, phối màu hay xử lý bề mặt mà sách vở khó có thể ghi chép đầy đủ, sự đứt gãy trong quá trình truyền nghề cũng đồng nghĩa với nguy cơ mai một những giá trị không dễ phục dựng.
Giữ nghề không thể chỉ trông vào lòng yêu nghề
Nhìn rộng hơn, câu chuyện ở Quất Động hay Hạ Thái phản ánh sự chuyển dịch mạnh mẽ của thị trường lao động nông thôn trong nhiều năm qua. Khi quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa diễn ra nhanh chóng, khoảng cách giữa một công việc tại nhà máy với một nghề thủ công truyền thống ngày càng rõ rệt.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hồi trăn trở trước nguy cơ mai một những giá trị không dễ phục dựng
Nếu lao động trong doanh nghiệp có thể nhận mức thu nhập ổn định ngay từ những tháng đầu tiên thì với nghề thủ công, người học phải dành nhiều năm tích lũy kỹ năng mới có thể tạo ra những sản phẩm có giá trị. Chính sự chênh lệch về thời gian, thu nhập và cơ hội phát triển khiến nhiều người trẻ, dù yêu quý giá trị văn hóa của làng nghề, vẫn lựa chọn một con đường khác để lập nghiệp.
Thực tế đó cũng đặt ra một nghịch lý. Trong nhiều năm qua, các địa phương liên tục đầu tư xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm OCOP và phát triển du lịch làng nghề. Những nỗ lực ấy góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao giá trị sản phẩm và tạo thêm cơ hội cho các làng nghề truyền thống. Thế nhưng, nếu thiếu đi lực lượng kế cận, những thành quả ấy khó có thể phát huy hiệu quả lâu dài. Một sản phẩm thủ công không chỉ cần thị trường để tiêu thụ mà trước hết phải có những người đủ kỹ năng để tạo ra nó.
Bởi vậy, bài toán nhân lực trẻ không thể chỉ giải quyết bằng lời kêu gọi giữ nghề hay tình yêu dành cho di sản. Điều người trẻ cần là nhìn thấy một tương lai nghề nghiệp rõ ràng, nơi nghề truyền thống không chỉ mang giá trị văn hóa mà còn đủ khả năng bảo đảm cuộc sống.
Điều đó đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ từ nhiều phía, từ chính sách đào tạo nghề, hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy, cải thiện thu nhập, phát triển thương hiệu đến mở rộng thị trường tiêu thụ và gắn làng nghề với du lịch văn hóa. Chỉ khi người trẻ nhìn thấy cơ hội phát triển lâu dài, việc quay trở về với nghề mới có thể trở thành một lựa chọn thực sự, thay vì chỉ là trách nhiệm gìn giữ truyền thống.











