Lào Cai: Đầu tư cho sinh kế, hạ tầng và chất lượng sống ở nông thôn
Giai đoạn 2026–2030, Lào Cai tập trung nguồn lực cho khu vực nông thôn theo ba hướng chính: tạo sinh kế và việc làm ổn định, hoàn thiện hạ tầng thiết yếu, nâng khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục, nước sạch. Định hướng này được cụ thể hóa trong Đề án phát triển toàn diện khu vực nông thôn tỉnh Lào Cai giai đoạn 2026–2030, ban hành kèm theo Nghị quyết số 35-NQ/TU ngày 29/12/2025 của Tỉnh ủy Lào Cai.

Mô hình du lịch cộng đồng của gia đình anh Giàng A Cấu (dân tộc Mông, xã Tả Van) trở thành điểm sáng trong phát huy nội lực, giúp người dân thoát nghèo bền vững. Ảnh nguồn: Laocai.gov.vn
Từ hỗ trợ giảm nghèo đến tạo sinh kế
Một trong những nội dung được Lào Cai đặt ra trong giai đoạn 2026–2030 là thay đổi cách tiếp cận giảm nghèo. Thay vì chỉ tập trung hỗ trợ trước mắt, tỉnh hướng tới tạo điều kiện để hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo có việc làm, nâng thu nhập và từng bước chủ động về sinh kế.
Việc rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo được thực hiện hằng năm, đi cùng với phân tích nguyên nhân nghèo để lựa chọn hình thức hỗ trợ phù hợp. Các chính sách tín dụng ưu đãi, đào tạo nghề, khuyến nông, khuyến công, chuyển giao khoa học kỹ thuật được xác định là những công cụ để người dân nâng năng lực sản xuất, kinh doanh.

Diện mạo vùng cao Lào Cai đổi thay tích cực từ những chương trình mục tiêu quốc gia. Ảnh nguồn: Laocai.gov.vn
Tỉnh cũng định hướng xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất, dịch vụ, thương mại, du lịch có sự tham gia của người nghèo và người mới thoát nghèo. Với từng địa bàn, hướng phát triển được tính đến theo điều kiện thực tế, từ nông, lâm đặc sản, dược liệu, chăn nuôi bản địa đến du lịch cộng đồng và dịch vụ biên mậu.
Đối với các xã nghèo, Lào Cai đặt mục tiêu mỗi xã có ít nhất hai sản phẩm chủ lực gắn với xây dựng thương hiệu. Cách làm này nhằm tạo ra những sản phẩm có khả năng tiêu thụ ổn định hơn, thay vì sản xuất nhỏ lẻ chỉ phục vụ nhu cầu tại chỗ.
Việc làm được đặt cùng với phát triển sản xuất. Tỉnh định hướng đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường, tăng kết nối giữa người lao động và doanh nghiệp, cung cấp thông tin việc làm và mở rộng cơ hội tham gia thị trường lao động. Mục tiêu đặt ra là mỗi hộ nghèo, hộ cận nghèo có ít nhất một người trong độ tuổi lao động có việc làm thường xuyên, ổn định.
Nếu sinh kế là điều kiện để người dân tăng thu nhập thì hạ tầng là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sản xuất và tiếp cận thị trường. Vì vậy, tại các xã nghèo và vùng lõi nghèo, Lào Cai ưu tiên nguồn lực cho giao thông, điện lưới và nước sạch.
Mục tiêu được đặt ra khá cụ thể: các thôn, bản có đường được cứng hóa; hộ nghèo được tiếp cận điện và nước sạch. Với những khu vực còn khó khăn về điều kiện tự nhiên, việc đầu tư hạ tầng không chỉ phục vụ sinh hoạt mà còn quyết định khả năng đưa hàng hóa ra thị trường, tiếp cận dịch vụ và tổ chức sản xuất.
Riêng lĩnh vực nước sạch, trong giai đoạn 2026–2030, Lào Cai dự kiến đưa vào kế hoạch đầu tư công việc nâng cấp, sửa chữa và xây mới 177 công trình cấp nước tập trung trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh hệ thống cấp nước tập trung, người dân có thể được hỗ trợ xây dựng giếng, bể trữ nước, lắp đặt thiết bị lọc nước phù hợp với điều kiện từng khu vực.
Những khoản đầu tư này tác động trực tiếp đến đời sống hằng ngày. Một tuyến đường thuận lợi hơn giúp giảm chi phí vận chuyển; điện ổn định tạo điều kiện cho sản xuất và dịch vụ; nước sạch góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt. Với các xã còn khó khăn, đây là những hạng mục có ảnh hưởng rõ đến cả sản xuất và đời sống.
Nâng chất lượng dịch vụ thiết yếu ở nông thôn

Lào Cai bố trí hơn 5.000 tỷ đồng thực hiện mục tiêu giảm nghèo năm 2026. Ảnh: laocai.gov.vn
Thu nhập và hạ tầng chưa phải toàn bộ câu chuyện về chất lượng sống. Với khu vực nông thôn, khả năng tiếp cận y tế và giáo dục cũng là những yếu tố có ảnh hưởng lâu dài đến cơ hội phát triển của mỗi gia đình.
Trong lĩnh vực y tế, Lào Cai định hướng củng cố hệ thống y tế cơ sở, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực. Tỉnh đồng thời khuyến khích huy động nguồn lực xã hội để phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, y tế dự phòng, đào tạo nhân lực và cơ sở khám, chữa bệnh.
Chuyển đổi số được đưa vào quá trình nâng cao chất lượng quản lý và cung cấp dịch vụ y tế. Sổ sức khỏe điện tử, bệnh án điện tử, đơn thuốc điện tử và hệ thống dữ liệu sức khỏe người dân từng bước được triển khai. Tỉnh cũng định hướng ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và Internet vạn vật trong khám, chữa bệnh, phòng chống dịch, nghiên cứu, đào tạo và quản lý y tế.
Đối với các xã vùng sâu, vùng xa, việc nâng năng lực y tế cơ sở có ý nghĩa thiết thực bởi người dân có thể tiếp cận dịch vụ ngay tại địa bàn sinh sống, giảm sự phụ thuộc vào các cơ sở y tế ở khu vực trung tâm.
Giáo dục là một trụ cột khác trong định hướng nâng chất lượng sống ở nông thôn. Lào Cai tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất trường lớp, nâng chất lượng dạy và học, đồng thời quan tâm các địa bàn vùng cao, vùng dân tộc thiểu số và khu vực biên giới.
Duy trì phổ cập giáo dục, bảo đảm điều kiện học tập và tạo cơ hội để trẻ em đến trường không chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt mà còn tác động đến chất lượng nguồn nhân lực về lâu dài. Với những gia đình có hoàn cảnh khó khăn, việc trẻ em được học tập đầy đủ cũng góp phần hạn chế nguy cơ nghèo tiếp diễn qua các thế hệ.
Các nhóm nhiệm vụ trong Đề án vì thế có mối quan hệ trực tiếp với nhau. Sinh kế tạo thu nhập; hạ tầng giúp giảm chi phí và mở rộng khả năng sản xuất; y tế, giáo dục và nước sạch tác động trực tiếp đến điều kiện sống. Khi các yếu tố này được triển khai đồng bộ, khu vực nông thôn có thêm điều kiện giữ người lao động, phát triển sản xuất và nâng chất lượng đời sống tại chỗ.

Hướng dẫn thống nhất công tác quản lý và hoạt động của Trạm Y tế xã, phường. Ảnh nguồn: Laocai.gov.vn
Việc ưu tiên nguồn lực cho các xã nghèo và vùng lõi nghèo cũng cho thấy trọng tâm của giai đoạn 2026–2030 không chỉ là đầu tư thêm công trình, mà hướng tới giải quyết những thiếu hụt cụ thể đang ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của người dân.
Với cách tiếp cận này, hiệu quả của chính sách phát triển nông thôn sẽ được thể hiện trước hết ở những thay đổi có thể đo đếm: người dân có việc làm ổn định hơn, thu nhập được cải thiện, đường giao thông và các công trình thiết yếu được hoàn thiện, trẻ em có điều kiện học tập, người dân được tiếp cận dịch vụ y tế và nguồn nước bảo đảm hơn.

