Luật Chuyển đổi số: Hành lang pháp lý thống nhất cho chuyển đổi số quốc gia
Luật Chuyển đổi số được thông qua tại Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XV đã tạo khung pháp lý thống nhất, góp phần khắc phục tình trạng 'mỗi nơi một kiểu' và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia.
Bảo đảm chuyển đổi số quốc gia bền vững
Luật Chuyển đổi số gồm 8 chương, 48 điều, được xây dựng theo mô hình "luật khung" – quy định các nguyên tắc, yêu cầu và định hướng lớn, không đi sâu vào các quy định thuộc phạm vi điều chỉnh của luật chuyên ngành mà giữ vai trò tạo sự thống nhất trong cách thức tổ chức, điều phối quá trình chuyển đổi số trên phạm vi cả nước.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh giới thiệu những điểm mới của các luật trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Ảnh: T. Chi
Luật tập trung giải quyết 5 nhóm vấn đề cốt lõi nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo động lực đột phá cho chuyển đổi số quốc gia, gồm: thiết lập khung pháp lý thống nhất để hình thành quốc gia số; thiết lập hành lang pháp lý về hoạt động chuyển đổi số, bảo đảm vừa quản lý, vừa thúc đẩy phát triển toàn diện chính phủ số, kinh tế số, xã hội số; thiết lập cơ chế điều phối quốc gia về chuyển đổi số bảo đảm thống nhất, hiệu quả. Luật hóa cơ chế về tài chính, nhân lực số cho chuyển đổi số. Quy định cơ chế đánh giá định kỳ, công khai kết quả chuyển đổi số.
Luật đã xác lập các nguyên tắc căn bản về chuyển đổi số, đóng vai trò là “kim chỉ nam” cho pháp luật chuyên ngành chuyển đổi số và nguyên tắc kiến trúc, thiết kế, yêu cầu tối thiểu đối với hệ thống số, như: sử dụng nền tảng số, điện toán đám mây, hỗ trợ về kết nối, chia sẻ dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng ngay từ giai đoạn thiết kế...
Luật quy định hệ thống các yếu tố thiết yếu bảo đảm chuyển đổi số quốc gia được hiệu quả, bền vững. Trong đó, coi năng lực số là yêu cầu bắt buộc trong giáo dục và công vụ; kết hợp cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ đặc thù để thu hút nhân tài; cam kết hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp nhằm bảo đảm sự thích ứng bền vững của người lao động.
Luật cũng quy định chi cho chuyển đổi số hằng năm tối thiểu 1% tổng chi ngân sách nhà nước làm đòn bẩy dẫn dắt, khơi thông nguồn lực. Đặc biệt, Luật giải quyết vấn đề kinh phí cho phát triển thử nghiệm các sản phẩm, dịch vụ chưa có sẵn, dự án chưa có tiền lệ (vốn là điểm nghẽn nhiều năm qua). Theo đó, Luật quy định về kinh phí cho nội dung này, cơ chế đặc thù để lựa chọn đối tác thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả trước khi thực hiện các thủ tục đầu tư, thuê, mua sắm theo quy định.
Nhằm phát triển hạ tầng chuyển đổi số, Luật quy định thống nhất quản lý hạ tầng số, hạ tầng số công cộng; ưu tiên nguồn lực phát triển trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và hạ tầng kết nối để thông minh hóa các hạ tầng kỹ thuật quan trọng, như: hạ tầng kỹ thuật giao thông, năng lượng, cấp thoát nước, đô thị, tòa nhà công cộng, môi trường...
Đồng thời, Luật ưu tiên ngân sách và khuyến khích hợp tác công tư phát triển hệ thống số dùng chung quốc gia; quy định về tiêu chí, danh mục nền tảng dùng chung quốc gia, nền tảng số dùng chung trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, làm cơ sở để tổ chức triển khai, sử dụng hiệu quả, hạn chế trùng lặp.
Đáng chú ý, Luật cho phép áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với lĩnh vực chuyển đổi số nhằm tạo ra "tấm khiên" pháp lý vững chắc để bảo vệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực chuyển đổi số. Thiết lập hệ thống chỉ số quốc gia và nền tảng thống kê, đo lường, giám sát, đánh giá chuyển đổi số thống nhất; lấy kết quả đánh giá làm căn cứ để đánh giá, công bố định kỳ hằng năm, xếp hạng thi đua, điều chỉnh chính sách và ưu tiên phân bổ ngân sách. Đây là giải pháp then chốt để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc chung về chuyển đổi số quốc gia thời gian qua, đặc biệt là về nhân lực và tài chính, qua đó tạo ra nền tảng vững chắc để thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, hiệu quả, bền vững.
Thúc đẩy phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số
Luật Chuyển đổi số thể chế hóa hoạt động của Chính phủ số theo hướng: cung cấp dịch vụ công, công tác quản trị nội bộ, chỉ đạo, điều hành, giám sát, kiểm tra thực hiện toàn trình trên môi trường số, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; hoạt động chỉ đạo, điều hành, ra quyết định dựa trên dữ liệu số; quy trình nghiệp vụ phải được rà soát, chuẩn hóa, tái cấu trúc và đơn giản hóa trước khi thực hiện số hóa.
Luật cũng quy định việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình; áp dụng nguyên tắc khai báo một lần, không yêu cầu người dân nộp lại giấy tờ; đồng thời cam kết đo lường chất lượng dịch vụ công trực tuyến và bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng cho mọi người dân. Quy định này đánh dấu sự thay đổi căn bản phương thức phục vụ của cơ quan nhà nước, hướng tới mục tiêu cao nhất là giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp.
Nhằm tạo hành lang pháp lý cho quản lý, thúc đẩy phát kinh tế số và xã hội số, Luật quy định các chính sách thúc đẩy kinh tế số, trong đó tập trung thúc đẩy chuyển đổi số doanh nghiệp, đặc biệt là hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, tham gia phát triển kinh tế số nhanh và bền vững. Đồng thời, phát triển xã hội số gắn với bảo vệ quyền con người, quyền công dân trên môi trường số; đặc biệt là Nhà nước ưu tiên bố trí nguồn lực gồm nguồn vốn đầu tư và các hình thức hỗ trợ tài chính để thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm bố trí nguồn lực cao hơn mức trung bình của cả nước đối với khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn.
Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh nhấn mạnh, ý nghĩa bao trùm của nội dung này là kiến tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế, đồng thời bảo đảm sự phát triển nhân văn, bao trùm, để không ai bị bỏ lại phía sau trong kỷ nguyên số.











