Luật hóa cơ chế phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế

Trong phiên thảo luận tại hội trường sáng nay (11/8) về dự án Luật Phát triển đô thị, nội dung luật hóa cơ chế thành lập Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng đã trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của các đại biểu Quốc hội. Một Trung tâm Tài chính Quốc tế sẽ khó hoàn thành sứ mệnh nếu chỉ thu hút được các định chế tài chính nước ngoài nhưng dòng vốn không đi được vào doanh nghiệp và các dự án trong nước. Từ yêu cầu mở “cửa ngõ” dẫn vốn toàn cầu đến trao quyền huy động vốn cho đô thị, các đại biểu Quốc hội cho rằng, cơ chế mới phải đồng thời giải được hai bài toán: khơi thông dòng vốn quốc tế và thiết lập hàng rào kiểm soát đủ chặt để bảo đảm an toàn tài chính công.

Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị (Ảnh VPQH)

Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Phát triển đô thị (Ảnh VPQH)

Không thể là “ốc đảo”, Trung tâm Tài chính Quốc tế phải là đầu mối dẫn vốn toàn cầu

Nội dung thu hút sự quan tâm hàng đầu của các đại biểu là việc luật hóa cơ chế phát triển Trung tâm Tài chính Quốc tế (TTTCQT) quy định tại Điều 23 dự thảo Luật Phát triển đô thị. Đánh giá cao việc đưa các cơ chế, chính sách phát triển TTTCQT tại TP.HCM và Đà Nẵng vào dự thảo luật, đại biểu Trịnh Ngọc Phương (đoàn TP.HCM) khẳng định quy định này đã thể hiện rõ vai trò đô thị đặc biệt của TP.HCM.

Tuy nhiên, đi sâu vào bản chất vận hành của thiết chế này, đại biểu Trịnh Ngọc Phương nhấn mạnh cần xác định rõ TTTCQT phải là nơi huy động, phân bổ và dẫn dắt nguồn vốn. Theo đại biểu, không nên đánh giá sự thành công của một trung tâm tài chính chỉ bằng số lượng ngân hàng, quỹ đầu tư hay các định chế tài chính quốc tế được thu hút. Thước đo quan trọng nhất chính là khả năng kết nối thị trường vốn quốc tế với nền kinh tế Việt Nam, huy động và dẫn dắt các dòng vốn đó vào các hoạt động phát triển thực tế. Vì vậy, các cơ chế trong luật cần được hoàn thiện để hình thành một hệ sinh thái tài chính đủ năng lực kết nối nguồn vốn toàn cầu với nhu cầu vốn của nền kinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực và dự án có nhu cầu vốn trung và dài hạn.

Đồng quan điểm, đại biểu Lã Thanh Tân (đoàn TP. Hải Phòng) phân tích rằng TTTCQT không phải là một nội dung đứng độc lập, mà là cấu phần cốt lõi làm nên bản sắc của một đô thị đặc biệt. Bên cạnh các cơ chế về tổ chức bộ máy, ngân sách hay khoa học công nghệ, thì năng lực huy động và dẫn nguồn vốn quốc tế chính là động cơ bảo đảm cho toàn bộ cỗ máy đô thị vận hành. Do đó, việc đưa TTTCQT vào một đạo luật về phát triển đô thị thay vì chỉ dừng ở một nghị quyết có ý nghĩa khẳng định cam kết dài hạn và ổn định của Nhà nước trong việc kiến tạo một trung tâm tài chính tầm khu vực.

Các ý kiến thảo luận cũng chỉ ra nguy cơ TTTCQT bị cô lập nếu thiếu cơ chế kết nối. Đại biểu Trịnh Ngọc Phương cảnh báo, TTTCQT không thể trở thành một “ốc đảo” tách rời khỏi nền kinh tế trong nước. Nếu dòng vốn quốc tế chỉ dừng lại trong phạm vi hoạt động của các thành viên trung tâm mà không kết nối được với doanh nghiệp và các dự án trong nước, thì vai trò dẫn vốn của trung tâm sẽ bị hạn chế rất lớn. Do đó, cơ chế pháp lý phải đủ rõ và đủ rộng để trung tâm thực sự trở thành cầu nối hiệu quả giữa thị trường vốn quốc tế và nền kinh tế Việt Nam.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú tại phiên họp (Ảnh VPQH)

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú tại phiên họp (Ảnh VPQH)

Mở rộng không gian dịch vụ tài chính và tháo gỡ điểm nghẽn tiếp cận vốn cho thị trường nội địa

Để TTTCQT phát huy đúng chức năng đầu mối, vấn đề mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho các chủ thể trong nước được các đại biểu phân tích kỹ lưỡng. Đại biểu Trịnh Ngọc Phương hoan nghênh việc dự thảo luật đã tiếp thu theo hướng cho phép các thành viên TTTCQT cung cấp dịch vụ cho các tổ chức, cá nhân trong nước nhằm giao dịch và thu hút vốn quốc tế. Nhưng theo đại biểu, đây mới chỉ là điều kiện cần.

Điều quan trọng hơn là phải tạo ra được một cơ chế vận hành thực chất. Khi một doanh nghiệp Việt Nam có dự án hạ tầng, công nghệ hoặc đổi mới sáng tạo cần nguồn vốn quốc tế, họ phải có thể thông qua thành viên trung tâm để tư vấn cấu trúc vốn, huy động vốn, phát hành trái phiếu hoặc kết nối với các quỹ đầu tư toàn cầu.

Phân tích sâu hơn về bất cập trong quy định hiện hành, đại biểu Lã Thanh Tân chỉ ra rằng, bản chất của TTTCQT là thu hút và luân chuyển dòng vốn quốc tế vào nền kinh tế trong nước, chứ không chỉ là nơi đặt trụ sở của các định chế nước ngoài. Tuy nhiên, theo các quy định hướng dẫn hiện nay, tư cách thành viên của trung tâm được xác lập trên nguyên tắc đăng ký chứ không theo ranh giới địa lý. Hệ quả là khái niệm "phần còn lại của Việt Nam" lại bao gồm cả chính quyền thành phố và các tổ chức, cá nhân trên địa bàn không mang tư cách thành viên.

Chính quy định này đang tạo ra rào cản, hạn chế các tổ chức trong nước sử dụng dịch vụ của thành viên trung tâm. Ngay tại TTTCQT, chính quyền thành phố và các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thể trực tiếp phát hành trái phiếu hay chứng khoán quốc tế. Dòng vốn lúc này mới chỉ đi một chiều từ bên ngoài vào thông qua các thành viên, chứ chưa hình thành được cơ chế để chủ thể trong nước chủ động tiếp cận, huy động vốn quốc tế ngay trên sân nhà. Điều này khiến trung tâm chưa mở được cửa dịch vụ tài chính ra thị trường nội địa.

Từ thực tiễn đó, đại biểu Lã Thanh Tân đề xuất bổ sung trực tiếp vào Điều 23 dự thảo luật quy định: Chính phủ, chính quyền thành phố và các tổ chức trong nước nếu đủ điều kiện phát hành thì được sử dụng dịch vụ tài chính, dịch vụ hỗ trợ của thành viên TTTCQT phù hợp với giấy phép trong phạm vi phục vụ hoạt động phát hành, niêm yết, giao dịch chứng khoán nhằm thu hút vốn quốc tế. Đây được xem là bản lề và cầu nối bắt buộc để TTTCQT thực sự vận hành, nối liền nguồn lực trong nước với thị trường vốn toàn cầu.

Bên cạnh đó, vấn đề phân định cơ chế giữa các địa phương cùng triển khai TTTCQT cũng được đặt lên bàn nghị sự. Đại biểu Trịnh Ngọc Phương nhắc lại việc Nghị quyết 222 của Quốc hội xác định TTTCQT Việt Nam được phát triển tại cả TP.HCM và Đà Nẵng, vận hành như một thực thể pháp lý thống nhất tại hai điểm. Tuy nhiên, đại biểu cho rằng vấn đề không phải là ép hai địa phương có mọi cơ chế hoàn toàn giống nhau. Điều quan trọng là phải phân định rõ đâu là cơ chế chung của TTTCQT Việt Nam, đâu là cơ chế đặc thù riêng cho TP.HCM để thực hiện vai trò đầu tàu. Với quy mô kinh tế, thị trường tài chính và nhu cầu huy động vốn rất lớn của TP.HCM, không nên vì yêu cầu thống nhất mà làm giảm không gian chính sách cần thiết của thành phố.

Nêu quan điểm đối lặp về kỹ thuật lập pháp, đại biểu Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) lại đề nghị không nhất thiết đưa quy định TTTCQT vào dự thảo luật này. Đại biểu Hòa phân tích, hiện nay chúng ta đã có Nghị quyết 222 áp dụng thí điểm cho cả TP.HCM và Đà Nẵng. Nếu luật này chỉ quy định riêng cho TP.HCM mà không có Đà Nẵng thì sẽ thiếu đồng bộ. Do đó, nên chờ Chính phủ tổng kết thực hiện Nghị quyết 222, sau đó ban hành một đạo luật riêng về Trung tâm Tài chính Quốc tế cho cả nước thì sẽ phù hợp và sát thực tế hơn.

Đồng tán thành việc chưa nên đưa ngay quy định TTTCQT vào dự thảo luật, đại biểu Nguyễn Phương Thủy (đoàn TP. Hà Nội) khẳng định, việc xây dựng TTTCQT đòi hỏi hệ thống cơ chế rất đặc thù, đồng bộ và có tính ổn định cao. Việc đưa một chính sách mới, rất phức tạp và mang tính cá biệt vào dự thảo luật ở giai đoạn này sẽ khó bảo đảm thời gian đánh giá tác động và lấy ý kiến một cách thực chất. Vì vậy, cơ chế này nên được thiết kế trong một luật hoặc nghị quyết riêng của Quốc hội.

Toàn cảnh phiên họp (Ảnh VPQH)

Toàn cảnh phiên họp (Ảnh VPQH)

Trao quyền huy động vốn gắn liền trách nhiệm tự cân đối và kiểm soát an toàn nợ địa phương

Song song với việc tạo không gian chính sách để hút dòng vốn, vấn đề kiểm soát an toàn tài chính công và siết chặt kỷ luật ngân sách được các đại biểu chỉ ra như một điều kiện bắt buộc.

Đại biểu Trịnh Ngọc Phương bày tỏ sự ủng hộ đối với việc giao cho TP.HCM các công cụ huy động vốn trung và dài hạn thông qua TTTCQT. Việc dự thảo luật quy định thẩm quyền của Hội đồng nhân dân thành phố trong việc quyết định phát hành trái phiếu đô thị, trái phiếu công trình tại TTTCQT để huy động vốn thực hiện các dự án trọng điểm là cơ chế rất cần thiết. Dù vậy, đại biểu đề nghị luật phải quy định rõ ràng về chủ thể phát hành, mục đích sử dụng vốn, giới hạn huy động, nghĩa vụ trả nợ và trách nhiệm của chính quyền thành phố. Các quy định này phải bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt các giới hạn về ngân sách và an toàn nợ địa phương. Tinh thần cốt lõi là trao quyền huy động vốn nhưng phải gắn chặt quyền đó với trách nhiệm và khả năng tự cân đối trả nợ.

Nhìn nhận ở góc độ quản lý rủi ro hệ thống, đại biểu Trịnh Ngọc Phương nhấn mạnh: Nguyên tắc chung là quyền hạn càng mạnh thì trách nhiệm và cơ chế kiểm soát càng phải rõ ràng. Khi TTTCQT càng mở cửa và dòng vốn giao dịch càng lớn thì yêu cầu kiểm soát tài chính cũng phải tăng tương ứng. Việc đặt ra các quy định kiểm soát chặt chẽ không phải là lý do để thu hẹp cơ chế đặc thù, mà ngược lại, đó là điều kiện tiên quyết để Quốc hội và Chính phủ có thể mạnh dạn trao quyền nhiều hơn và rộng hơn cho thành phố. Đây là việc giao công cụ cho một đô thị đặc biệt để thực hiện vai trò đầu tàu tài chính quốc gia, chứ không đơn thuần là một chính sách ưu đãi mang tính cục bộ.

Tổng hợp các yêu cầu phát triển, đại biểu Trịnh Ngọc Phương đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật Phát triển đô thị đối với nội dung TTTCQT theo 4 định hướng lớn:

Một là, trao cho thành phố đủ công cụ pháp lý để huy động, phân bổ và dẫn dắt nguồn vốn quốc tế.

Hai là, tạo cơ chế vận hành để nguồn vốn và các dịch vụ tài chính quốc tế thực sự đi vào doanh nghiệp, dự án và trở thành động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Ba là, phân định rõ cơ chế chung của TTTCQT Việt Nam với các cơ chế đặc thù của TP.HCM, bảo đảm vừa giữ được tính thống nhất toàn cục, vừa phát huy tối đa vai trò đầu tàu.

Bốn là, cơ chế đặc thù phải đi đôi với trách nhiệm giải trình, kiểm soát chặt chẽ dòng vốn và bảo đảm an toàn tài chính công.

Các đại biểu cho rằng, việc hoàn thiện các quy định về TTTCQT trong dự thảo Luật Phát triển đô thị được kỳ vọng sẽ không chỉ dừng lại ở việc giải quyết một cơ chế đặc thù cho một địa phương. Nếu được thiết kế chuẩn mực, đồng bộ và kiểm soát tốt rủi ro, đây sẽ là nền móng pháp lý cho một thiết chế tài chính mới, trở thành cửa ngõ quan trọng để Việt Nam kết nối sâu rộng với thị trường vốn toàn cầu, huy động hiệu quả nguồn lực quốc tế và tạo động lực tăng trưởng bứt phá cho cả nước trong giai đoạn tới.

Trần Hương

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/luat-hoa-co-che-phat-trien-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-186111.html