Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Đưa văn hóa trở thành động lực tăng trưởng
(PLVN) - Sau 12 năm triển khai chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tạo một bước đột phá về thể chế. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lấy ý kiến được kỳ vọng tháo gỡ “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo và đưa văn hóa trở thành động lực tăng trưởng, đồng thời gia tăng “sức mạnh mềm” Việt Nam.
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Đưa văn hóa trở thành động lực tăng trưởng

Bản sắc văn hóa độc đáo là lợi thế cạnh tranh. (Ảnh: Ngọc Linh) (PLVN) - Sau 12 năm triển khai chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tạo một bước đột phá về thể chế. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lấy ý kiến được kỳ vọng tháo gỡ “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo và đưa văn hóa trở thành động lực tăng trưởng, đồng thời gia tăng “sức mạnh mềm” Việt Nam.
Thứ Năm 13/08/2026 07:17 (GMT+7)
Cần “cú huých” mạnh hơn về chính sách
Công nghiệp văn hóa đã được đề cập từ Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Sau hơn một thập niên, lĩnh vực này đã hình thành nhiều ngành, thị trường và cộng đồng sáng tạo năng động. Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Các quy định liên quan đến công nghiệp văn hóa hiện phân tán ở nhiều luật như điện ảnh, sở hữu trí tuệ, du lịch, quảng cáo, xuất bản… Trong khi đó, một số lĩnh vực như văn học, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm vẫn chủ yếu được điều chỉnh bằng các văn bản dưới luật.
Những quy định này đã tạo cơ sở quản lý từng lĩnh vực, nhưng chưa hình thành một khung pháp lý thống nhất cho toàn bộ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Một sản phẩm văn hóa không chỉ được tạo ra từ sáng tạo. Để đến được với công chúng, nó cần quyền sở hữu trí tuệ, vốn đầu tư, sản xuất, công nghệ, phân phối, thị trường và khả năng tái đầu tư. Khi những mắt xích này chưa được kết nối, tiềm năng lớn vẫn khó chuyển hóa thành giá trị kinh tế lớn.
Theo dự thảo Tờ trình dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam giai đoạn 2018 - 2025 ước đạt khoảng 4 - 5%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là tối thiểu 7%. Khoảng cách này cho thấy cần một “cú huých” mạnh hơn về chính sách, thay vì chỉ trông chờ vào sự phát triển tự thân của thị trường.
Dự thảo Luật gồm 9 chương, 60 điều, với 6 nhóm chính sách trọng tâm: hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ; nhân lực; hạ tầng; thị trường; tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư. Đây là những trụ cột để từng bước xác định địa vị pháp lý của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam. Dự thảo Luật đặt thị trường, hạ tầng, nhân lực, tài chính và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa trong một tổng thể. Đây là cách tiếp cận phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ số.
Trong nền kinh tế sáng tạo, tài sản lớn nhất nhiều khi không phải là nhà xưởng, máy móc mà là những giá trị vô hình được tạo ra từ trí tuệ. Một bộ phim, ca khúc, thiết kế, thương hiệu, nhân vật, format chương trình, trò chơi điện tử hay phần mềm đều có thể tạo ra giá trị kinh tế trong thời gian dài. Nhưng nếu không được định danh, bảo hộ, định giá và quản lý hiệu quả, những tài sản ấy rất khó trở thành nguồn lực để tiếp tục đầu tư. Dự thảo Luật dành một chương riêng về tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa, trong đó đề xuất mã định danh tài sản trí tuệ và hồ sơ tài sản trí tuệ. Mã định danh giúp nhận diện, quản lý, truy xuất và theo dõi vòng đời tài sản. Hồ sơ tài sản trí tuệ giúp tập hợp thông tin về tài sản, tình trạng pháp lý và các dữ liệu liên quan, phục vụ quản lý, giao dịch, định giá và bảo hộ.
Tạo đà phát triển văn hóa Việt Nam
Điểm đáng chú ý là dự thảo quy định tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa có thể được sử dụng để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng theo quy định của pháp luật. Lâu nay, doanh nghiệp sáng tạo thường gặp khó khi tiếp cận vốn bởi tài sản của họ chủ yếu là tài sản vô hình. Trong khi đó, ngân hàng cần cơ sở pháp lý và cơ chế định giá để đánh giá rủi ro. Nếu tài sản trí tuệ được định danh, có hồ sơ, được định giá và bảo hộ tốt hơn, khả năng tiếp cận vốn sẽ được mở rộng. Khi đó, chuỗi “sáng tạo - quyền - tài sản - vốn - sản xuất - thị trường - doanh thu - tái đầu tư” có cơ hội vận hành thông suốt. Ý nghĩa của chính sách này không chỉ nằm ở việc giúp doanh nghiệp có thêm vốn. Quan trọng hơn, nó tạo điều kiện để giá trị sáng tạo tiếp tục sinh ra giá trị sáng tạo.
Chính sách hỗ trợ cho công nghiệp văn hóa cũng cần minh bạch, đúng đối tượng. Tài chính phải khuyến khích đầu tư. Tài sản trí tuệ phải được bảo vệ và khai thác hiệu quả. Hạ tầng văn hóa cần hiện đại, số hóa và kết nối. Nhân lực phải vừa có năng lực sáng tạo, vừa hiểu công nghệ, bản quyền, quản trị và thị trường. Quan trọng nhất, phải tạo được môi trường để người sáng tạo dám sáng tạo, doanh nghiệp dám đầu tư và thị trường có thể trả giá xứng đáng cho những giá trị sáng tạo…
Mục tiêu công nghiệp văn hóa đạt tối thiểu 7% GDP không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế. Đó là yêu cầu chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành nguồn lực phát triển. Khi sáng tạo được bảo vệ, tài sản trí tuệ được định giá, doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn, sản phẩm có thị trường và giá trị Việt Nam có thể bước ra thế giới, văn hóa sẽ không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn trở thành nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và “sức mạnh mềm” của quốc gia.
Thùy Dương
Cần “cú huých” mạnh hơn về chính sách
Công nghiệp văn hóa đã được đề cập từ Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Sau hơn một thập niên, lĩnh vực này đã hình thành nhiều ngành, thị trường và cộng đồng sáng tạo năng động. Tuy nhiên, kết quả vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Các quy định liên quan đến công nghiệp văn hóa hiện phân tán ở nhiều luật như điện ảnh, sở hữu trí tuệ, du lịch, quảng cáo, xuất bản… Trong khi đó, một số lĩnh vực như văn học, nghệ thuật biểu diễn, mỹ thuật, nhiếp ảnh, triển lãm vẫn chủ yếu được điều chỉnh bằng các văn bản dưới luật.
Những quy định này đã tạo cơ sở quản lý từng lĩnh vực, nhưng chưa hình thành một khung pháp lý thống nhất cho toàn bộ chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Một sản phẩm văn hóa không chỉ được tạo ra từ sáng tạo. Để đến được với công chúng, nó cần quyền sở hữu trí tuệ, vốn đầu tư, sản xuất, công nghệ, phân phối, thị trường và khả năng tái đầu tư. Khi những mắt xích này chưa được kết nối, tiềm năng lớn vẫn khó chuyển hóa thành giá trị kinh tế lớn.
Theo dự thảo Tờ trình dự án Luật Phát triển công nghiệp văn hóa, tỷ trọng công nghiệp văn hóa trong GDP Việt Nam giai đoạn 2018 - 2025 ước đạt khoảng 4 - 5%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là tối thiểu 7%. Khoảng cách này cho thấy cần một “cú huých” mạnh hơn về chính sách, thay vì chỉ trông chờ vào sự phát triển tự thân của thị trường.
Dự thảo Luật gồm 9 chương, 60 điều, với 6 nhóm chính sách trọng tâm: hệ sinh thái công nghiệp văn hóa; tài sản trí tuệ; nhân lực; hạ tầng; thị trường; tài chính, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư. Đây là những trụ cột để từng bước xác định địa vị pháp lý của công nghiệp văn hóa trong cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam. Dự thảo Luật đặt thị trường, hạ tầng, nhân lực, tài chính và hệ sinh thái công nghiệp văn hóa trong một tổng thể. Đây là cách tiếp cận phù hợp với sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ số.
Trong nền kinh tế sáng tạo, tài sản lớn nhất nhiều khi không phải là nhà xưởng, máy móc mà là những giá trị vô hình được tạo ra từ trí tuệ. Một bộ phim, ca khúc, thiết kế, thương hiệu, nhân vật, format chương trình, trò chơi điện tử hay phần mềm đều có thể tạo ra giá trị kinh tế trong thời gian dài. Nhưng nếu không được định danh, bảo hộ, định giá và quản lý hiệu quả, những tài sản ấy rất khó trở thành nguồn lực để tiếp tục đầu tư. Dự thảo Luật dành một chương riêng về tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa, trong đó đề xuất mã định danh tài sản trí tuệ và hồ sơ tài sản trí tuệ. Mã định danh giúp nhận diện, quản lý, truy xuất và theo dõi vòng đời tài sản. Hồ sơ tài sản trí tuệ giúp tập hợp thông tin về tài sản, tình trạng pháp lý và các dữ liệu liên quan, phục vụ quản lý, giao dịch, định giá và bảo hộ.
Tạo đà phát triển văn hóa Việt Nam
Điểm đáng chú ý là dự thảo quy định tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hóa có thể được sử dụng để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng theo quy định của pháp luật. Lâu nay, doanh nghiệp sáng tạo thường gặp khó khi tiếp cận vốn bởi tài sản của họ chủ yếu là tài sản vô hình. Trong khi đó, ngân hàng cần cơ sở pháp lý và cơ chế định giá để đánh giá rủi ro. Nếu tài sản trí tuệ được định danh, có hồ sơ, được định giá và bảo hộ tốt hơn, khả năng tiếp cận vốn sẽ được mở rộng. Khi đó, chuỗi “sáng tạo - quyền - tài sản - vốn - sản xuất - thị trường - doanh thu - tái đầu tư” có cơ hội vận hành thông suốt. Ý nghĩa của chính sách này không chỉ nằm ở việc giúp doanh nghiệp có thêm vốn. Quan trọng hơn, nó tạo điều kiện để giá trị sáng tạo tiếp tục sinh ra giá trị sáng tạo.
Chính sách hỗ trợ cho công nghiệp văn hóa cũng cần minh bạch, đúng đối tượng. Tài chính phải khuyến khích đầu tư. Tài sản trí tuệ phải được bảo vệ và khai thác hiệu quả. Hạ tầng văn hóa cần hiện đại, số hóa và kết nối. Nhân lực phải vừa có năng lực sáng tạo, vừa hiểu công nghệ, bản quyền, quản trị và thị trường. Quan trọng nhất, phải tạo được môi trường để người sáng tạo dám sáng tạo, doanh nghiệp dám đầu tư và thị trường có thể trả giá xứng đáng cho những giá trị sáng tạo…
Mục tiêu công nghiệp văn hóa đạt tối thiểu 7% GDP không chỉ là một chỉ tiêu kinh tế. Đó là yêu cầu chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành nguồn lực phát triển. Khi sáng tạo được bảo vệ, tài sản trí tuệ được định giá, doanh nghiệp có thể tiếp cận vốn, sản phẩm có thị trường và giá trị Việt Nam có thể bước ra thế giới, văn hóa sẽ không chỉ là nền tảng tinh thần mà còn trở thành nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và “sức mạnh mềm” của quốc gia.
Thùy Dương
(PLVN) - Sau 12 năm triển khai chủ trương phát triển công nghiệp văn hóa, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu tạo một bước đột phá về thể chế. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lấy ý kiến được kỳ vọng tháo gỡ “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực, giải phóng sức sáng tạo và đưa văn hóa trở thành động lực tăng trưởng, đồng thời gia tăng “sức mạnh mềm” Việt Nam.












