Mở đường cho công nghiệp văn hóa cất cánh

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được đưa ra lấy ý kiến trong bối cảnh văn hóa ngày càng được nhìn nhận không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực tăng trưởng và sức mạnh mềm của quốc gia. Điều cần chờ đợi ở đạo luật này không phải là thêm bao nhiêu ưu đãi hay thủ tục mới, mà là một thể chế đủ sức nối người sáng tạo với doanh nghiệp, tài sản trí tuệ với nguồn vốn, di sản với công nghệ và sản phẩm văn hóa Việt Nam với thị trường trong nước, quốc tế.

Lễ hội Áo dài TP.HCM 2026. Ảnh: KIENGCAN

Lễ hội Áo dài TP.HCM 2026. Ảnh: KIENGCAN

Từ khoảng trống thể chế đến hệ sinh thái sáng tạo

Việc xây dựng Luật Phát triển công nghiệp văn hóa có ý nghĩa trước hết ở chỗ lấp một khoảng trống quan trọng trong hệ thống thể chế phát triển văn hóa. Chúng ta đã có nhiều luật điều chỉnh điện ảnh, xuất bản, quảng cáo, di sản văn hóa, sở hữu trí tuệ, doanh nghiệp, đầu tư, đất đai, thuế, khoa học và công nghệ.

Tuy nhiên, các đạo luật này phần lớn được thiết kế theo từng ngành, từng loại hình hoạt động và từng thủ tục quản lý, trong khi công nghiệp văn hóa lại vận hành theo logic của chuỗi giá trị và sự kết nối liên ngành. Một bộ phim hôm nay không chỉ là câu chuyện của điện ảnh mà còn liên quan đến âm nhạc, bản quyền, công nghệ, quảng cáo, du lịch, thời trang, nền tảng số và phân phối quốc tế; một trò chơi điện tử có thể bắt đầu từ lịch sử, truyền thuyết, mỹ thuật truyền thống rồi đi qua thiết kế, phần mềm, âm nhạc và thương mại điện tử để đến với hàng triệu người trên thế giới.

Vì vậy, điều chúng ta còn thiếu không hẳn là thêm một giấy phép, một thủ tục hay một cơ quan quản lý, mà là những cơ chế kết nối. Đó là kết nối văn hóa với thị trường, người sáng tạo với doanh nghiệp, tài sản trí tuệ với tài chính, cơ sở đào tạo với nhu cầu của nền kinh tế sáng tạo, doanh nghiệp Việt Nam với mạng lưới phân phối toàn cầu và nguồn lực Nhà nước với khả năng sáng tạo rất lớn đang tồn tại trong xã hội.

Dự thảo Luật đã bước đầu đi đúng hướng khi nhìn công nghiệp văn hóa như một hệ sinh thái và một chuỗi giá trị, đồng thời đặt con người, chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp và tài sản trí tuệ vào vị trí trung tâm. Đây là thay đổi quan trọng, bởi công nghiệp văn hóa không thể được hình thành trước hết từ việc xây thêm công trình hay thành lập thêm các khu, cụm, mà phải bắt đầu từ con người có khả năng sáng tạo, từ ý tưởng có thể trở thành tác phẩm, từ tác phẩm có thể trở thành tài sản trí tuệ và từ tài sản trí tuệ có khả năng tạo ra sản phẩm, doanh nghiệp, thị trường và những giá trị mới.

Cách tiếp cận đó cũng phù hợp với tinh thần mới trong các chủ trương lớn về phát triển văn hóa. Nghị quyết 80-NQ/TW đặt văn hóa trong một vị trí ngày càng rõ hơn của mô hình phát triển đất nước, gắn văn hóa với con người, nguồn lực nội sinh, đổi mới sáng tạo và sức mạnh mềm. Nghị quyết 28/2026/QH16 tiếp tục mở ra những cơ chế mới về nguồn lực, đầu tư, đặt hàng sáng tạo, chuyển đổi số, hạ tầng và Quỹ văn hóa, nghệ thuật.

Đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý văn hóa sang tư duy kiến tạo phát triển, từ bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo để văn hóa có thể tạo ra tri thức, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia. Nếu coi đây là tinh thần chỉ đạo xuyên suốt, thì Luật Phát triển công nghiệp văn hóa phải là đạo luật mở đường cho những kết nối mới, chứ không phải một lớp quản lý mới phủ lên các luật chuyên ngành hiện có.

Khơi thông tài sản trí tuệ, phát triển chuỗi giá trị

Trong số các nội dung của Dự thảo, tôi đặc biệt quan tâm tới tài sản trí tuệ. Nhiều doanh nghiệp công nghiệp văn hóa không có nhiều đất đai, nhà xưởng hay máy móc; tài sản lớn nhất của họ có thể là một kịch bản, một nhân vật, một bản nhạc, một thiết kế, một phần mềm, một thương hiệu, một cộng đồng người sử dụng hay quyền khai thác một sản phẩm sáng tạo. Nếu hệ thống tài chính vẫn chủ yếu nhìn vào tài sản hữu hình để cho vay, doanh nghiệp sáng tạo sẽ luôn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn. Việc Dự thảo đặt vấn đề định danh, lập hồ sơ, định giá, góp vốn, sử dụng tài sản trí tuệ trong quan hệ tín dụng và xây dựng các cơ chế bảo lãnh, chia sẻ rủi ro vì thế có thể trở thành một trong những đột phá quan trọng nhất, với điều kiện chúng ta phát triển đồng thời thị trường định giá, dữ liệu giao dịch, tổ chức trung gian và cơ chế xử lý rủi ro.

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy muốn công nghiệp văn hóa phát triển mạnh thì phải nhìn cả hệ sinh thái, chứ không chỉ từng sản phẩm. Hàn Quốc là một ví dụ rõ nét: Điều đáng học không đơn thuần là K-pop hay điện ảnh, mà là cách họ kết nối sáng tạo, đào tạo, tài chính, công nghệ, sở hữu trí tuệ, phân phối và xuất khẩu. Một tài sản trí tuệ thành công không dừng lại ở sản phẩm ban đầu mà có thể tiếp tục đi sang phim, hoạt hình, trò chơi, thời trang, quảng cáo, du lịch và hàng lưu niệm.

Vương quốc Anh lại cho thấy một kinh nghiệm khác: Phát triển các ngành công nghiệp sáng tạo gắn chặt với thống kê, đánh giá hiệu quả chính sách, khả năng tiếp cận tài chính, kỹ năng và tăng trưởng vùng. Chính sách không kết thúc ở thời điểm được ban hành mà phải liên tục được đo bằng việc làm, đầu tư, tăng trưởng doanh nghiệp, xuất khẩu và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Đây là bài học rất đáng suy nghĩ đối với Việt Nam khi thiết kế một đạo luật phát triển trong bối cảnh mới.

Từ góc độ đó, Luật cần tạo ra bước chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang phát triển cả chuỗi giá trị. Điểm yếu của chúng ta lâu nay không hẳn là thiếu tài năng hay thiếu sản phẩm, mà ở các khâu trung gian giúp sản phẩm đi xa hơn. Một bộ phim hay nhưng thiếu hệ thống phân phối thì giá trị kinh tế bị giới hạn; một tác phẩm có sức sống nhưng quản trị bản quyền yếu thì phần lớn giá trị có thể rơi khỏi tay người sáng tạo; một sản phẩm giàu bản sắc nhưng thiếu thiết kế, marketing, bản địa hóa và kết nối thị trường quốc tế thì rất khó trở thành thương hiệu. Bởi vậy, chính sách không nên chỉ hỗ trợ “làm ra sản phẩm”, mà phải nhìn toàn bộ vòng đời của giá trị sáng tạo, từ hình thành ý tưởng, phát triển tài sản trí tuệ, sản xuất, phân phối, thương mại hóa đến tái đầu tư.

Mở đường cho sáng tạo, nhưng không mở thêm vòng “xin cho”

Điều tôi kỳ vọng nhất ở vòng hoàn thiện Dự thảo là Luật phải thực sự trở thành một đạo luật kiến tạo phát triển. Những gì điện ảnh, xuất bản, quảng cáo, di sản hay sở hữu trí tuệ đã có pháp luật chuyên ngành điều chỉnh thì không nên lặp lại. Luật mới cần tập trung đúng vào những khoảng trống mà các luật hiện hành chưa giải quyết được: Phát triển chuỗi giá trị, hỗ trợ người sáng tạo và doanh nghiệp, khai thác tài sản trí tuệ, tài chính sáng tạo, hạ tầng dùng chung, phát triển thị trường, xuất khẩu, dữ liệu và điều phối liên ngành.

Nếu Luật lại tạo thêm nhiều danh mục, giấy công nhận, điều kiện, thủ tục hay đầu mối xét duyệt, chúng ta có thể vô tình mang tư duy quản lý cũ vào một lĩnh vực cần tự do sáng tạo, phản ứng nhanh với công nghệ và thay đổi rất nhanh theo thị trường.

Từ góc độ này, tôi cho rằng cần hết sức thận trọng với tư duy cho rằng muốn thúc đẩy công nghiệp văn hóa thì phải dành thật nhiều ưu đãi. Ưu đãi là cần thiết ở một số giai đoạn và đối với những lĩnh vực thị trường chưa thể tự phát triển, nhưng nếu hầu hết hoạt động đều được xếp vào nhóm “đặc biệt ưu đãi”, “ưu đãi cao nhất” thì chính sách sẽ mất trọng tâm và nguồn lực Nhà nước dễ bị dàn trải.

Điều quan trọng hơn là chuyển dần từ ưu đãi dựa trên tên gọi, địa điểm hay tư cách được công nhận sang hỗ trợ dựa trên kết quả. Một doanh nghiệp không nên được hưởng mức ưu đãi rất cao chỉ vì đặt trong một khu sáng tạo; cần nhìn xem doanh nghiệp ấy tạo ra bao nhiêu tài sản trí tuệ, bao nhiêu việc làm có kỹ năng, đóng góp thế nào cho thị trường, xuất khẩu, chuyển giao công nghệ và hệ sinh thái sáng tạo.

Tương tự, một công trình không nên tiếp tục được đầu tư ngân sách chỉ vì mang tên công trình văn hóa. Cần đo được số người sử dụng, hiệu suất khai thác, số hoạt động diễn ra, tác động xã hội và khả năng hỗ trợ người sáng tạo, doanh nghiệp. Tôi đánh giá cao việc Dự thảo đã đặt vấn đề đánh giá hiệu quả hạ tầng và cho phép xem xét điều chỉnh, chấm dứt hoặc thu hồi ưu đãi trong trường hợp công trình không đạt hiệu quả trong nhiều kỳ.

Tư duy này nên được mở rộng thành nguyên tắc chung của toàn bộ Luật: Chính sách hỗ trợ phải có mục tiêu rõ, thời hạn rõ, kết quả đầu ra, cơ chế đánh giá và cả cơ chế kết thúc khi không còn cần thiết hoặc không mang lại hiệu quả.

Một vấn đề nữa cần đặc biệt lưu ý là không để những chính sách mới tạo ra thêm một vòng “xin - cho”. Các khái niệm như sản phẩm công nghiệp văn hóa trọng điểm, tài sản trí tuệ gốc trọng điểm, thương hiệu công nghiệp văn hóa quốc gia hay sản phẩm mang bản sắc Việt Nam đều có ý nghĩa nhất định, nhưng nếu mỗi khái niệm kéo theo một bộ hồ sơ, một hội đồng xét duyệt, một giấy chứng nhận và sau đó là một gói ưu đãi thì rất dễ hình thành thêm thủ tục hành chính. Người sáng tạo cuối cùng có thể phải dành nhiều thời gian làm hồ sơ hơn là sáng tạo. Vì vậy, các chương trình sử dụng ngân sách cần công khai tiêu chí, lựa chọn cạnh tranh, có hội đồng chuyên gia độc lập, kiểm soát xung đột lợi ích, công khai kết quả và đánh giá sau hỗ trợ.

Để bản sắc, con người và dữ liệu trở thành nguồn lực

Đặc biệt, việc xác định “hàm lượng bản sắc Việt Nam” cần được cân nhắc kỹ. Bản sắc văn hóa là một giá trị sống động, không ngừng được sáng tạo và bổ sung trong đời sống. Bản sắc Việt Nam không chỉ tồn tại ở hoa văn truyền thống, trang phục cổ, nhạc cụ dân tộc hay những câu chuyện lịch sử, mà còn có thể hiện diện trong cách người Việt Nam hôm nay suy nghĩ, ứng xử, yêu thương, sáng tạo và nhìn ra thế giới. Nếu biến bản sắc thành một bảng điểm hành chính quá cứng, chúng ta có thể vô tình thu hẹp không gian sáng tạo. Nhà nước nên khuyến khích bản sắc và tạo điều kiện để các giá trị Việt Nam đi vào sản phẩm hiện đại, nhưng không nên định nghĩa thay nghệ sĩ rằng sáng tạo thế nào mới “đủ bản sắc”. Việc lựa chọn sản phẩm để hỗ trợ có thể dựa nhiều hơn vào các tiêu chí khách quan như chủ thể sáng tạo Việt Nam, quyền sở hữu tài sản trí tuệ tại Việt Nam, mức độ sử dụng chất liệu văn hóa, sự tham gia của lao động và doanh nghiệp trong nước, tiềm năng tiếp cận công chúng và thị trường quốc tế.

Cùng với đó, khi phát triển các tổ hợp, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, cần tránh đồng nhất phát triển công nghiệp văn hóa với phát triển bất động sản. Có đất, có nhà và một tấm biển “khu sáng tạo” chưa có nghĩa là đã có hệ sinh thái sáng tạo. Một khu sáng tạo chỉ có ý nghĩa khi người sáng tạo muốn đến đó, doanh nghiệp có thể phát triển ở đó, cơ sở đào tạo và nghiên cứu có thể kết nối, nhà đầu tư tìm thấy cơ hội, công chúng tìm được sản phẩm và các chủ thể nhỏ có khả năng tiếp cận hạ tầng với chi phí phù hợp. Những ưu đãi đất đai vì vậy phải gắn với cam kết và kết quả cụ thể, đồng thời có cơ chế thu hồi khi dự án không thực hiện đúng mục tiêu.

Trong kỷ nguyên mới, tôi cho rằng Luật cần dành sự quan tâm đặc biệt tới ba nguồn lực quyết định tương lai của công nghiệp văn hóa: Con người sáng tạo, tài sản trí tuệ và dữ liệu văn hóa. Chúng ta có thể xây thêm nhà hát, phim trường hay khu sáng tạo, nhưng nếu thiếu người giỏi, nếu tài sản trí tuệ không được bảo vệ và thương mại hóa, nếu kho tàng di sản không được chuyển thành dữ liệu có khả năng khai thác hợp pháp cho giáo dục, nghiên cứu, thiết kế, điện ảnh, game và trí tuệ nhân tạo thì công nghiệp văn hóa vẫn khó có bước đột phá. Đặc biệt, số hóa không thể chỉ là chụp ảnh, quét tài liệu rồi đưa vào kho lưu trữ; dữ liệu phải có nguồn gốc, định danh, tiêu chuẩn kỹ thuật, khả năng tìm kiếm, kết nối và tái sử dụng, đồng thời giải quyết được quyền tác giả, quyền của cộng đồng, quyền lợi của nghệ nhân và cơ chế chia sẻ lợi ích.

Triết lý xuyên suốt của Luật, theo tôi, phải là: Nhà nước không làm thay thị trường, không lựa chọn thay công chúng và không hành chính hóa sáng tạo; Nhà nước tạo nền tảng, bảo vệ quyền, chia sẻ những rủi ro mà thị trường chưa thể tự gánh vác và mở ra cơ hội công bằng để tài năng được phát triển. Thước đo thành công của Luật vì thế không nên là sau khi ban hành chúng ta có thêm bao nhiêu quỹ, bao nhiêu khu sáng tạo hay bao nhiêu chương trình hỗ trợ.

Điều cần nhìn thấy phải là có nhiều người Việt Nam sống được bằng sáng tạo hơn, nhiều tài sản trí tuệ Việt Nam được hình thành và bảo vệ hơn, nhiều doanh nghiệp văn hóa Việt Nam lớn mạnh hơn, nhiều sản phẩm Việt Nam có thị trường trong nước và quốc tế hơn, đồng thời nhiều giá trị văn hóa Việt Nam được thế giới biết đến, yêu thích và trân trọng hơn. Khi tạo ra được những chuyển biến ấy, Luật Phát triển công nghiệp văn hóa sẽ thực sự trở thành một nền tảng thể chế quan trọng để văn hóa góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững và tự tin bước vào kỷ nguyên mới. 

PGS.TS BÙI HOÀI SƠN

Nguồn Văn hóa: http://baovanhoa.vn/van-hoa/mo-duong-cho-cong-nghiep-van-hoa-cat-canh-255335.html