Mở rộng không gian cho kinh tế số

Khi đánh giá đóng góp của kinh tế số vào GDP, không nên chỉ nhìn vào quy mô hay tốc độ tăng trưởng. Điều quan trọng hơn là phải xem xét trong tổng giá trị mà kinh tế số tạo ra, bao nhiêu giá trị thực sự được giữ lại trong nền kinh tế và thuộc về các doanh nghiệp Việt Nam.

Nhiều điểm nghẽn phát triển kinh tế số

Tại “Diễn đàn kinh doanh 2026: Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới” do VCCI chỉ đạo, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp tổ chức chiều 14/8, các diễn giả đã chỉ ra những điểm nghẽn hiện hữu, từ đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế số tại Việt Nam.

Các diễn giả thảo luận tại diễn đàn. Ảnh: BTC.

Các diễn giả thảo luận tại diễn đàn. Ảnh: BTC.

GS TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam cho rằng, Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế số. Tuy nhiên, khi đánh giá đóng góp của kinh tế số vào GDP, không nên chỉ nhìn vào quy mô hay tốc độ tăng trưởng. Điều quan trọng hơn là phải xem xét trong tổng giá trị mà kinh tế số tạo ra, bao nhiêu giá trị thực sự được giữ lại trong nền kinh tế và thuộc về các doanh nghiệp Việt Nam.

GS TS Hoàng Văn Cường cũng chỉ ra thêm một số điểm nghẽn trong phát triển kinh tế số. Đó là chi phí doanh nghiệp ứng dụng công nghệ với kết quả, năng suất mang lại chưa như tương xứng, nhất là ở các doanh nghiệp SME, chi phí đầu tư công nghệ rất lớn.

Điểm nghẽn giữa mức độ hấp thụ và mức độ trang bị công nghệ chưa cao, cách ra quyết định của doanh nghiệp vẫn theo phương thức truyền thống, dữ liệu “đóng”, chưa có cơ chế chia sẻ. Điểm nghẽn liên quan đến khả năng kết nối, nếu không đồng bộ giữa các doanh nghiệp và kết nối cả cơ quan Nhà nước sẽ khó hỗ trợ hiệu quả …

Ở góc độ ngành du lịch, ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam cho biết, đối với du lịch - một ngành kinh tế tổng hợp có mức độ xã hội hóa cao, chuyển đổi số phải tổ chức lại toàn bộ chuỗi giá trị: từ quản lý nhà nước, phát triển sản phẩm, xúc tiến thị trường, tổ chức hành trình, cung cấp dịch vụ đến đo lường hiệu quả và quản trị điểm đến.

Theo ông Khánh, công nghệ là phương tiện, dữ liệu là nguồn lực nhưng hiệu quả kinh tế, sự hài lòng của du khách, lợi ích của cộng đồng và tính bền vững của điểm đến mới là thước đo cuối cùng. Chuyển đổi số phải giúp doanh nghiệp giảm chi phí, du khách có trải nghiệm thuận tiện hơn và cơ quan quản lý ra quyết định kịp thời hơn.

Dữ liệu giúp theo dõi sức chứa điểm đến, phân bố dòng khách, chất lượng môi trường và mức độ hài lòng của cộng đồng; từ đó chủ động điều tiết khách theo không gian và thời gian, giảm áp lực lên những điểm đến quá tải, đồng thời phân phối cơ hội phát triển tới khu vực nông thôn, miền núi và các điểm đến thứ cấp.

“Thời gian qua, Cục Du lịch quốc gia Việt Nam đã từng bước hình thành các cấu phần của hệ sinh thái du lịch thông minh, bao gồm cơ sở dữ liệu, nền tảng số và các giải pháp dùng chung phục vụ quản lý nhà nước, hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao trải nghiệm du khách” – ông Khánh cho biết.

Dưới góc nhìn Hiệp hội doanh nghiệp, bà Đỗ Thị Thuý Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam cho biết, các doanh nghiệp điện tử Việt Nam đã chuyển đổi số từ xa, từ sớm hướng tới mục tiêu lớn. Chuyển đổi số đóng vai trò quan trọng trong tiến trình này, qua đó thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng giá trị sản phẩm.

Kinh tế số hiện diện ở mọi lĩnh vực

Để chuyển đổi số thực sự trở thành động lực tăng trưởng, Cục trưởng Cục Du lịch quốc gia Việt Nam xác định một số nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới của ngành du lịch. Theo đó, cần hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn và kiến trúc dữ liệu du lịch; quy định rõ trách nhiệm tạo lập, cập nhật, kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu; mở những dữ liệu có thể chia sẻ nhưng phải có kiểm soát, đúng mục đích và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên.

Củng cố cơ sở dữ liệu du lịch Việt Nam và các nền tảng số dùng chung của ngành; kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành; gắn kết dữ liệu hành chính, dữ liệu thống kê và dữ liệu hoạt động phù hợp để phục vụ quản trị, phân tích và dự báo.

Xây dựng hệ thống chỉ số, bảng điều hành và công cụ phân tích; hỗ trợ địa phương theo dõi sức khỏe điểm đến, sức chứa, dòng khách, mức độ hài lòng và hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường.

Thúc đẩy hợp tác công - tư; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận giải pháp quản trị số, phân tích dữ liệu và AI với chi phí hợp lý; khuyến khích thử nghiệm có kiểm soát đối với mô hình, sản phẩm và dịch vụ mới. Đồng thời, phát triển nguồn nhân lực số; tăng cường đào tạo kỹ năng khai thác dữ liệu, ứng dụng AI, an toàn thông tin và quản trị đổi mới cho đội ngũ cán bộ quản lý, doanh nghiệp và người lao động du lịch.

Ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết: Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP. Điều này cho thấy khoa học công nghệ và chuyển đổi số được đặt trong mối quan hệ trực tiếp với năng suất, tốc độ tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Mới đây, Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định 1033/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030.

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) được ông Bùi Trung Nghĩa dẫn lại, tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP năm 2025 ước đạt 14,02%, tương đương khoảng 72,1 tỷ USD, tăng 1,64 lần so với năm 2020.

Tốc độ tăng trưởng hai con số được duy trì trong nhiều năm, đưa kinh tế số Việt Nam vươn lên đứng thứ hai ở Đông Nam Á và thuộc nhóm những nền kinh tế số phát triển nhanh nhất. Trong đó, thương mại điện tử tiếp tục giữ vai trò trụ cột khi chiếm 2/3 quy mô nền kinh tế số.

Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu phấn đấu tỉ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đạt khoảng 30%; hỗ trợ tối thiểu 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số; có tối thiểu 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm các nước tiên tiến; phát triển, thúc đẩy và đưa vào sử dụng tối thiểu 5 sàn dữ liệu.

Để đạt mục tiêu này, theo Phó Chủ tịch VCCI, cần phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt, phát huy vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp công nghệ lớn và doanh nghiệp nhà nước trong thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp công nghệ số cần chủ động áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật về an ninh mạng, đồng thời tăng cường phối hợp, trao đổi và cung cấp thông tin với cơ quan nhà nước theo quy định pháp luật.

Ông Bùi Trung Nghĩa cho rằng việc gắn các hoạt động số mang tính cốt lõi vào mô hình sản xuất kinh doanh có thể nâng cao hiệu quả sử dụng lao động thông qua tối ưu hóa quy trình, cải thiện khả năng xử lý thông tin và khai thác tốt hơn các yếu tố công nghệ.

Tuy nhiên, cộng đồng doanh nghiệp, trong đó khoảng 98% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, dù đã nhận thức được sự cần thiết của ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng.

"Hạn chế về nguồn lực tài chính khiến nhiều doanh nghiệp khó đầu tư máy móc, công nghệ, phần mềm quản trị, dữ liệu số, bảo mật, tự động hóa, thương mại điện tử, truy xuất nguồn gốc và ứng dụng trí tuệ nhân tạo", Phó Chủ tịch VCCI nhấn mạnh.

Theo Phó Chủ tịch VCCI, cần đẩy mạnh thu hút nguồn lực khu vực tư nhân vào phát triển các dự án hạ tầng số và quản trị số, được xem là những yếu tố quan trọng để mở rộng không gian phát triển và nâng cao hiệu quả vận hành nền kinh tế.

Phó Chủ tịch VCCI nhấn mạnh, kinh tế số đang hiện diện ở tất cả lĩnh vực, cơ sở phát triển kinh tế số đang ở ngay trước mắt. Tuy nhiên, để nắm bắt được cơ hội này, các bên cần cùng hành động nhanh hơn, quyết đoán hơn và sáng tạo hơn, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Hồ Hương

Nguồn Đại Đoàn Kết: https://daidoanket.vn/mo-rong-khong-gian-cho-kinh-te-so.html