Mở rộng không gian tăng trưởng, gỡ vướng về thể chế, tạo đà phát triển logistics Vùng đồng bằng sông Hồng

Những giải pháp, cách làm nhằm tạo không gian phát triển mới cho Vùng đồng bằng sông Hồng và thành phố Hải Phòng đã được đề xuất tại Diễn đàn Logistics Vùng lần VII 2026 diễn ra chiều 21/9 tại TP. Hải Phòng.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng cùng các đại biểu tham dự Diễn đàn Logistics Vùng lần VII 2026 với chủ đề “Kiến tạo không gian phát triển mới cho logistics Vùng đồng bằng sông Hồng”. (Ảnh: Hồng Châu)

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng cùng các đại biểu tham dự Diễn đàn Logistics Vùng lần VII 2026 với chủ đề “Kiến tạo không gian phát triển mới cho logistics Vùng đồng bằng sông Hồng”. (Ảnh: Hồng Châu)

Diễn đàn do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và UBND TP. Hải Phòng chỉ đạo Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp phối hợp Sở Công Thương Hải Phòng, Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam, Hiệp hội Logistics Hải Phòng tổ chức.

Hải Phòng đặt logistics vào trụ cột tăng trưởng mới

Phát biểu tại Diễn đàn, ông Lê Ngọc Châu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng, nhấn mạnh vị thế của thành phố là trung tâm công nghiệp, cảng biển, đầu mối giao thông và cực tăng trưởng của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Với lợi thế hội tụ các loại hình giao thông đường bộ, đường biển, hàng không, đường sắt và đường thủy nội địa, logistics ngày càng giữ vai trò quan trọng trong không gian phát triển của thành phố và toàn vùng.

Những năm qua, dịch vụ logistics trên địa bàn Hải Phòng phát triển mạnh cả về quy mô và chất lượng. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt trên 10%/năm, tỷ trọng đóng góp vào GRDP thành phố bình quân khoảng 11,5%.

Sản lượng hàng hóa thông qua hệ thống cảng biển Hải Phòng cũng liên tục tăng qua các năm. “Những kết quả đó đã góp phần đưa Hải Phòng là địa phương duy nhất trong toàn quốc có tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số trong 11 năm liên tiếp”, ông Lê Ngọc Châu dẫn chứng.

Ông Lê Ngọc Châu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng chia sẻ tại Diễn đàn. (Nguồn: Báo Hải Phòng)

Ông Lê Ngọc Châu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng chia sẻ tại Diễn đàn. (Nguồn: Báo Hải Phòng)

Theo lãnh đạo thành phố, trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc và cạnh tranh giữa các trung tâm logistics ngày càng gay gắt, yêu cầu đặt ra đối với Vùng Đồng bằng sông Hồng không dừng ở việc mở rộng quy mô logistics. Mục tiêu cao hơn là hình thành cực logistics quốc gia có tính kết nối cao, năng lực cạnh tranh quốc tế và giá trị gia tăng lớn.

Từ đó, Hải Phòng đặt trọng tâm vào kết nối đồng bộ cảng biển, sân bay, đường sắt và các trung tâm logistics; đồng thời thúc đẩy số hóa, tự động hóa và chuyển đổi xanh. Thành phố cũng xác định logistics và dịch vụ cảng biển là một trong những động lực quan trọng trong giai đoạn phát triển mới, gắn với việc thực hiện các định hướng lớn của Trung ương về phát triển Hải Phòng, tổ chức không gian phát triển quốc gia, đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển kinh tế biển.

Phác thảo một tầm nhìn dài hạn trong việc mở rộng không gian phát triển logistics bằng những kỳ vọng đột phá thể chế từ Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, ông Trần Tiến Dũng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), Chủ tịch Hiệp hội Logistics Hải Phòng (HPLA) thông tin, nhìn vào bản đồ phát triển kinh tế giai đoạn 2015 – 2025, đồng bằng sông Hồng cùng dải không gian liên kết Bắc Trung Bộ đã chứng kiến sự bứt phá ngoạn mục. Quy mô GRDP toàn vùng đồng bằng sông Hồng ước tính đạt hơn 3,88 triệu tỷ đồng vào năm 2025, tăng gấp 2,7 lần so với mốc mười năm trước đó.

“Sự phân công vai trò giữa các địa phương trong vùng ngày càng thể hiện rõ nét. Nếu như Thủ đô Hà Nội giữ vai trò đầu não, đô thị trung tâm và hạt nhân nghiên cứu và phát triển (R&D); Bắc Ninh vươn lên thành cực sản xuất công nghệ cao; Quảng Ninh khẳng định vị thế cửa ngõ kinh tế biển phía Đông; thì Hải Phòng vươn mình trở thành cửa ra biển lớn và trung tâm logistics cấp vùng”, ông Dũng cho biết.

Trên thực tế, sức bứt phá của vùng kinh tế còn nhận được “cú huých” lớn từ thương mại quốc tế. Kim ngạch thương mại Việt Nam – Trung Quốc duy trì đà tăng trưởng trên 20% mỗi năm và dự kiến sẽ đạt mốc 300 tỷ USD vào năm 2026.

Sự kiện vận hành kênh đào Bình Lục kết nối Nam Ninh với Khâm Châu từ giữa tháng 9 năm 2026 đang mở ra một tuyến hành lang thương mại mới với thời gian và chi phí tối ưu. Đồng thời, thương mại song phương Việt Nam – Lào cũng ghi nhận mốc kỷ lục gần 3 tỷ USD vào năm 2025 và hướng tới mục tiêu 5 tỷ USD trong giai đoạn 2026 – 2030.

Ở vị trí trung tâm kết nối quốc tế, theo nhận định của ông Dũng, cụm cảng Hải Phòng năm 2025 đã vươn lên vị trí thứ 13 thế giới về hiệu suất khai thác với 50 bến cảng, sở hữu 6 trung tâm logistics lớn, 46 kho ngoại quan và 25 kho CFS. Đặc biệt, khu bến cảng nước sâu Lạch Huyện đã đủ khả năng đón các siêu tàu container trọng tải lên tới 200.000 DWT, duy trì hơn 20 tuyến tàu mẹ kết nối trực tiếp Hải Phòng với Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Đông và Ấn Độ.

Vận tải đường bộ gánh tới 98% lượng hàng hóa

Tuy nhiên, ông Dũng cũng chỉ ra một nghịch lý đáng suy ngẫm. Đằng sau con số tăng trưởng ấn tượng của hạ tầng cảng biển là một thực trạng đáng lo ngại về phương thức kết nối giao thông nội địa.

Theo tính toán, sản lượng container thông qua cảng Hải Phòng dự báo sẽ cán mốc từ 13 triệu đến hơn 15,6 triệu TEU vào năm 2030, tức tăng thêm từ 61% đến 93% so với mức 8,1 triệu TEU của năm 2025.

“Nhưng, câu hỏi hiện tại đang đặt ra với chúng ta là lượng hàng hóa khổng lồ này sẽ di chuyển như thế nào vào sâu trong nội địa?”, ông Dũng đặt vấn đề tại Diễn đàn.

Theo ông Dũng, trái ngược với đà bứt phá của cảng biển, có tới 98% lượng hàng container hiện nay vẫn phải gánh trên vai phương thức vận tải đường bộ. Duy nhất tỉnh Bắc Ninh bước đầu hình thành các hệ thống ICD và cảng thủy nội địa có khả năng đóng rút, xếp dỡ container kết nối với Hải Phòng.

Việc phụ thuộc gần như tuyệt đối vào xe container chạy trên các tuyến cao lộ không chỉ làm gia tăng nguy cơ ùn tắc giao thông, tai nạn và ô nhiễm môi trường, mà còn trực tiếp đẩy chi phí logistics của doanh nghiệp Việt Nam duy trì ở mức cao, chiếm khoảng 17% GDP”.

Ông Trần Tiến Dũng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), Chủ tịch Hiệp hội Logistics Hải Phòng (HPLA) chỉ ra những nghịch lý đáng suy ngẫm đang cản trở sự phát triển của logistic đường thủy. (Ảnh: Hồng Châu)

Ông Trần Tiến Dũng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA), Chủ tịch Hiệp hội Logistics Hải Phòng (HPLA) chỉ ra những nghịch lý đáng suy ngẫm đang cản trở sự phát triển của logistic đường thủy. (Ảnh: Hồng Châu)

Khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ vốn sở hữu nguồn tài nguyên vô giá với hơn 4.000 km đường thủy nội địa cùng 300 km tuyến ven biển có thể khai thác thương mại. Vận tải thủy vốn mang ưu thế vượt trội về sức chở, chi phí thấp và phát thải carbon cực kỳ khiêm tốn.

Dù vậy, số lượng doanh nghiệp mặn mà đầu tư vào lĩnh vực này lại đếm trên đầu ngón tay. Tuyến hành lang đường thủy số 1 Hải Phòng – Bắc Ninh hiện chỉ đáp ứng khoảng 20 chuyến mỗi tuần bằng các dòng tàu sông nhỏ dưới 120 TEU do vướng hạn chế về tĩnh không cầu và luồng hẹp. Tuyến Hải Phòng đi Ninh Bình hay Nghi Sơn (Thanh Hóa) cũng chỉ duy trì vài chuyến mỗi tuần với đội tàu ven biển quy mô hạn chế.

Gỡ “nút thắt” về thể chế

Để tháo gỡ nút thắt này, theo ông Dũng, cộng đồng doanh nghiệp logistics đang đặt kỳ vọng lớn vào sự thay đổi căn cơ từ Bộ luật Hàng hải và Đường thủy Việt Nam sửa đổi.

“Đây được xem là “chìa khóa” mở ra nền tảng pháp lý thống nhất, tối ưu hóa nguồn lực xã hội nhằm đưa tỷ lệ kết nối container bằng đường thủy nội địa và đường biển từ mức khiêm tốn dưới 200.000 TEU hiện nay lên mức 20% vào năm 2030, tương đương từ 2,6 đến 3,1 triệu TEU”, ông Dũng cho biết.

Đột phá đầu tiên cần nhắc tới là tư duy quản lý quỹ đất ven sông. Luật Đê điều hiện hành khống chế khắt khe mức sử dụng không quá 5% quỹ đất bãi ngoài đê cho việc xây dựng nhà xưởng, mặc dù trên thực tế nhiều khu vực bãi bồi đã có cao trình hoàn toàn an toàn trước lũ.

Một chương trình phối hợp liên Bộ nhằm đánh giá lại tổng thể năng lực thoát lũ thực tế sẽ là cơ sở khoa học để điều chỉnh luật, giải phóng quỹ đất bãi sông phục vụ các hạ tầng kinh tế biển quan trọng như xưởng đóng sửa tàu, bãi chứa container, kho bãi logistics và nhà điều hành cảng.

Khu bến cảng nước sâu Lạch Huyện đã đủ khả năng đón các siêu tàu container trọng tải lên tới 200.000 DWT, duy trì hơn 20 tuyến tàu mẹ kết nối trực tiếp Hải Phòng với Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Đông và Ấn Độ. (Nguồn: Báo Hải Phòng)

Khu bến cảng nước sâu Lạch Huyện đã đủ khả năng đón các siêu tàu container trọng tải lên tới 200.000 DWT, duy trì hơn 20 tuyến tàu mẹ kết nối trực tiếp Hải Phòng với Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Trung Đông và Ấn Độ. (Nguồn: Báo Hải Phòng)

Bên cạnh đó, Hàng hải Việt Nam cần nghiên cứu sửa đổi quy định cho phép các phương tiện vận chuyển container thủy nội địa và ven biển có thiết kế chuẩn hóa hiện đại, sở hữu cabin mũi và chân vịt mũi, chiều dài tới 100m, dung tích tới 5.000 GT, được miễn trừ bắt buộc lai dắt và hoa tiêu khi ra vào cảng.

Theo ông Dũng, bước đi này sẽ “cởi trói”, giúp các doanh nghiệp tự tin nâng sức chở của tàu gom hàng từ mức dưới 250 TEU hiện nay lên thẳng 600 TEU, tức tăng 150% năng lực vận tải trên mỗi chuyến đi, giúp cắt giảm sâu chi phí và khí thải mà vẫn bảo đảm tuyệt đối an toàn kỹ thuật.

Song song đó, cần sớm ban hành các chính sách ưu đãi đột phá về thuế, phí, lệ phí, tín dụng cũng như chính sách giao mặt nước, khu vực biển để thu hút các nhà đầu tư chiến lược xây dựng đội tàu container nội địa hiệu suất cao.

Giải pháp miễn phí sử dụng hạ tầng cảng biển đối với lượng hàng container giao nhận bằng đường thủy và đường biển cũng sẽ là đòn bẩy kinh tế trực tiếp, kích thích chủ hàng chuyển hướng mạnh mẽ từ đường bộ sang đường thủy.

“Cuối cùng, việc duy tu luồng lạch, phao tiêu kết hợp cải tạo tĩnh không các mố cầu cũ như cầu Bình, cầu An Thái hay cầu Hồ sẽ giúp kéo dài thời gian vận hành trong ngày của tàu thủy, cho phép xếp thêm hàng trên boong mà không lo va chạm tĩnh không. Việc quy hoạch các bến cảng mới tại Lạch Huyện và Nam Đồ Sơn trong tương lai cũng cần tính riêng không gian cho phương tiện thủy nội địa với khả năng tiếp nhận tàu lên tới 5.000 DWT thay vì giới hạn 3.000 DWT như hiện nay”, ông Dũng đề xuất.

Tổ chức không gian kinh tế theo tư duy phát triển mới

Theo Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương Nguyễn Ngọc Tuấn, cần tổ chức lại không gian kinh tế theo tư duy phát triển mới. Không gian này được cấu trúc theo các dòng lưu chuyển của hàng hóa, vốn, công nghệ, nhân lực và tri thức. Trong đó, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và chuỗi giá trị được kết nối tạo ra giá trị gia tăng và sức lan tỏa. Từ cách tiếp cận trên, ông Nguyễn Ngọc Tuấn gợi mở 5 định hướng lớn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu tại Diễn đàn. (Ảnh: Hồng Châu)

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương phát biểu tại Diễn đàn. (Ảnh: Hồng Châu)

Một là, đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển mạnh từ tư duy tăng trưởng theo địa giới sang tư duy tổ chức không gian phát triển theo lợi thế và liên kết kinh tế, đưa Vùng đồng bằng sông Hồng trở thành đầu tàu dẫn dắt chuyển đổi mô hình tăng trưởng của cả nước. Chuyển từ tăng trưởng dựa nhiều vào gia công, lắp ráp và khai thác lợi thế chi phí sang tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và giá trị gia tăng.

Hai là, tổ chức lại không gian kinh tế của Vùng theo các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và chuỗi giá trị, lấy liên kết để chuyển lợi thế riêng thành năng lực cạnh tranh chung. Các hành lang trở thành không gian tập trung và lan tỏa các hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ, đô thị và đổi mới sáng tạo. Các cực tăng trưởng phải thực sự đóng vai trò dẫn dắt. Các chuỗi giá trị phải trở thành cơ sở để phân công, kết nối và nâng cấp sản xuất…

Ba là, lấy logistics làm đột phá để kết nối và vận hành thông suốt toàn bộ không gian phát triển của Vùng. Logistics phải được chuyển từ một ngành dịch vụ hỗ trợ thành một cấu phần của cấu trúc kinh tế, có vai trò kết nối các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, trung tâm sản xuất, đô thị, cảng biển, cửa khẩu và thị trường. Ưu tiên hình thành mạng lưới logistics đa phương thức, phát huy vai trò các cửa ngõ quốc tế, nhất là Hải Phòng - Lạch Huyện, đồng thời tăng cường kết nối đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, cảng biển và hàng không để giảm chi phí, rút ngắn thời gian lưu chuyển và mở rộng không gian hoạt động của doanh nghiệp.

Môt phiên thảo luận chuyên đề tại Diễn đàn. (Ảnh: Hồng Châu)

Môt phiên thảo luận chuyên đề tại Diễn đàn. (Ảnh: Hồng Châu)

Bốn là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tạo nền tảng nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của Vùng. Tập trung ứng dụng công nghệ trong tổ chức sản xuất, quản trị đô thị, thương mại và logistics; phát triển hạ tầng số, dữ liệu dùng chung và các nền tảng kết nối liên vùng. Bên cạnh đó, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp logistics và các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao; từng bước hình thành hệ sinh thái logistics thông minh, quản trị chuỗi cung ứng dựa trên dữ liệu, qua đó giảm chi phí, nâng cao năng suất và mở rộng không gian phát triển.

Năm là, hoàn thiện thể chế; tạo đột phá về hạ tầng, dữ liệu và nguồn nhân lực để hình thành một không gian kinh tế vùng có năng lực kết nối và sức cạnh tranh quốc tế. Hạ tầng được phát triển đồng bộ với tổ chức không gian, sản xuất và đô thị; dữ liệu và chuyển đổi số trở thành hạ tầng mới; nguồn nhân lực chất lượng cao để trở thành yếu tố quyết định.

Hồng Châu

Nguồn TG&VN: https://baoquocte.vn/mo-rong-khong-gian-tang-truong-go-vuong-ve-the-che-tao-da-phat-trien-logistics-vung-dong-bang-song-hong-446897.html