Mở rộng không gian tăng trưởng từ liên kết kinh tế láng giềng
Chuyến thăm chính thức Lào và Campuchia của Thủ tướng Lê Minh Hưng từ ngày 8 - 10/10 không chỉ góp phần củng cố quan hệ hữu nghị truyền thống, mà còn mở ra cơ hội tăng cường kết nối hạ tầng, đầu tư, thương mại và chuỗi sản xuất giữa ba nền kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới tăng trưởng cao, liên kết kinh tế với các nước láng giềng có ý nghĩa quan trọng trong mở rộng không gian phát triển, tạo thêm động lực tăng trưởng dài hạn.
Trong chưa đầy 48 giờ, Thủ tướng Lê Minh Hưng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã có nhiều hoạt động tại Lào và Campuchia, chứng kiến việc ký kết, trao gần 40 văn kiện, thỏa thuận hợp tác; tham dự các diễn đàn doanh nghiệp, xúc tiến đầu tư và trực tiếp trao đổi về những vướng mắc trong triển khai các dự án hợp tác. Đáng chú ý, theo Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung, chuyến thăm đã góp phần cơ bản giải quyết dứt điểm những khó khăn của các dự án hợp tác thời gian qua, đồng thời mở ra các hướng, lĩnh vực và dự án mới có tiềm năng, tạo thêm động lực, nguồn lực phát triển cho cả ba nước. Nhìn từ góc độ kinh tế, ý nghĩa chuyến thăm không chỉ nằm ở những thỏa thuận đạt được, mà còn ở triển vọng chuyển lợi thế láng giềng và quan hệ hợp tác truyền thống thành những liên kết kinh tế thực chất.
Từ mở rộng thương mại đến liên kết chuỗi giá trị
Những năm gần đây, hợp tác thương mại Việt Nam với Lào và Campuchia có bước phát triển đáng kể. Hợp tác thương mại giữa Việt Nam với Lào và Campuchia những năm gần đây phát triển tích cực. Năm 2025, kim ngạch thương mại Việt Nam - Lào đạt 2,9 tỷ USD, hai nước hướng tới mục tiêu 10 tỷ USD vào năm 2030. Với Campuchia, thương mại song phương đạt 11,33 tỷ USD năm 2025 và 8,67 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2026; hai nước đặt mục tiêu sớm đạt 20 tỷ USD.

Thủ tướng Lê Minh Hưng tham quan dự án Angkor Milk của Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam tại Campuchia. Ảnh: VGP
Những mục tiêu này cho thấy dư địa mở rộng thị trường, nhưng vấn đề quan trọng hơn là nâng chất lượng hợp tác. Gia tăng trao đổi hàng hóa giúp mở rộng quy mô thương mại, trong khi liên kết đầu tư, sản xuất và chuỗi cung ứng có thể tạo thêm giá trị gia tăng, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của các nền kinh tế.
Việt Nam có thế mạnh về công nghiệp chế biến, chế tạo, logistics và mạng lưới thị trường xuất khẩu; Lào có tiềm năng về năng lượng, khoáng sản, nông nghiệp; Campuchia có lợi thế về nguồn nguyên liệu, sản xuất nông nghiệp và thị trường đang phát triển. Những lợi thế bổ trợ này có thể phát huy hiệu quả cao hơn nếu được kết nối thành các chuỗi giá trị xuyên biên giới.
Chẳng hạn, liên kết vùng nguyên liệu tại Lào, Campuchia với năng lực chế biến, bảo quản, logistics và hệ thống phân phối của Việt Nam sẽ mở ra cơ hội phát triển các chuỗi sản xuất phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu. Khi đó, tăng trưởng thương mại không chỉ đến từ lượng hàng hóa trao đổi mà còn từ giá trị gia tăng được tạo ra ở từng công đoạn, mang lại lợi ích cho các bên tham gia.
Đáng chú ý, trong chuyến thăm Campuchia, hai bên nhất trí thúc đẩy liên kết sản xuất, chế biến nông sản theo chuỗi giá trị, hướng tới hợp tác đầu tư và sản xuất có chiều sâu. Đây là định hướng quan trọng để nâng cấp quan hệ thương mại, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực.
Kết nối hạ tầng, khơi thông nguồn lực đầu tư
Nếu liên kết chuỗi giá trị là mục tiêu, kết nối hạ tầng và thể chế chính là điều kiện để hiện thực hóa mục tiêu đó.
Với Lào, hai nước tiếp tục thúc đẩy các dự án hạ tầng chiến lược như đường cao tốc Hà Nội - Viêng Chăn, tuyến đường sắt kết nối Viêng Chăn với cảng Vũng Áng qua Thakhek và Mụ Giạ, cùng các dự án đường ống dẫn xăng dầu và hợp tác điện năng. Với Campuchia, trọng tâm là thúc đẩy kết nối tuyến cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài với tuyến Bavet - Phnom Penh, phát triển hạ tầng cửa khẩu, logistics và vận tải xuyên biên giới.
Những dự án này có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi giao thông. Khi được triển khai đồng bộ, chúng có thể giúp Lào tăng khả năng tiếp cận cảng biển và thị trường quốc tế; tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa giữa Việt Nam và Campuchia; đồng thời mở rộng mạng lưới vận tải, sản xuất và phân phối trong khu vực.
Tuy nhiên, kết nối hạ tầng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng sự thông suốt về thể chế và thủ tục. Một tuyến đường mới có thể rút ngắn thời gian vận chuyển, nhưng nếu hàng hóa vẫn phải chờ đợi kéo dài tại cửa khẩu, chịu chi phí thông quan, kiểm dịch và thanh toán cao, lợi ích kinh tế sẽ bị hạn chế. Vì vậy, trong các cuộc hội đàm giữa Thủ tướng Lê Minh Hưng với Thủ tướng Lào và Thủ tướng Campuchia, hai bên đều nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kết nối thể chế, chính sách, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, hải quan, kiểm dịch, tạo thuận lợi cho thanh toán xuyên biên giới và hợp tác tài chính - ngân hàng.
Một điểm đáng chú ý trong chuyến thăm Lào và Campuchia của Thủ tướng Lê Minh Hưng là việc chú trọng tháo gỡ khó khăn cho các dự án đầu tư hiện hữu, bên cạnh thúc đẩy đầu tư mới. Lào hiện là địa bàn đầu tư ra nước ngoài lớn nhất của Việt Nam, với hơn 300 dự án, tổng vốn đăng ký trên 7 tỷ USD. Tại Campuchia, doanh nghiệp Việt Nam có 223 dự án, tổng vốn đăng ký khoảng 3,4 tỷ USD. Quy mô này cho thấy nền tảng hợp tác đầu tư đáng kể, nhưng vốn đăng ký mới phản ánh nguồn lực cam kết, chưa đồng nghĩa với năng lực sản xuất và giá trị kinh tế được tạo ra. Vì vậy, tháo gỡ những vướng mắc đang cản trở tiến độ triển khai và vận hành dự án cũng chính là cách nâng cao hiệu quả nguồn vốn đã đầu tư.

Thủ tướng Lê Minh Hưng và Thủ tướng Lào Saleumxay Kommasith chứng kiến trao chứng nhận và thoả thuận hợp tác đầu tư giữa doanh nghiệp hai nước, chiều 8/10, tại thủ đô Vientiane. Ảnh: Dương Giang/TTXVN
Tại Hội nghị Xúc tiến đầu tư Việt Nam - Lào, Thủ tướng Lê Minh Hưng giao Bộ Tài chính phối hợp tiếp thu, xử lý kiến nghị của doanh nghiệp; đưa những vấn đề cần phối hợp vào chương trình làm việc của Ủy ban liên Chính phủ, xác định rõ trách nhiệm và thời hạn giải quyết. Với Campuchia, hai bên thống nhất nâng cấp cơ chế Ủy ban Hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư lên cấp Phó Thủ tướng chủ trì và duy trì đối thoại định kỳ với doanh nghiệp.
Ý nghĩa của những cơ chế này vượt ra ngoài việc tháo gỡ khó khăn cho từng doanh nghiệp. Quan trọng hơn, đó là khơi thông nguồn lực đầu tư, chuyển vốn đã huy động thành năng lực sản xuất và giá trị gia tăng thực tế, đồng thời củng cố niềm tin của nhà đầu tư, tạo dư địa cho những dòng vốn mới.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới tăng trưởng hai con số, mở rộng không gian phát triển cần gắn với phát huy lợi thế bổ trợ giữa các nền kinh tế, hình thành năng lực sản xuất mới và nâng cao giá trị gia tăng. Từ kết quả chuyến thăm Lào và Campuchia của Thủ tướng Lê Minh Hưng, điều quan trọng là cụ thể hóa các thỏa thuận hợp tác thành những chương trình, dự án với tiến độ và trách nhiệm thực hiện rõ ràng, qua đó chuyển hóa lợi thế láng giềng và quan hệ hợp tác truyền thống thành động lực tăng trưởng thực chất, bền vững cho cả ba nền kinh tế.
