Mở thêm nguồn lực cho rừng Đà Nẵng
TP Đà Nẵng có diện tích rừng tự nhiên lớn, đồng thời sở hữu hệ sinh thái đa dạng với nhiều giá trị về môi trường và đa dạng sinh học. Trong bối cảnh yêu cầu giảm phát thải và phát triển kinh tế xanh ngày càng được quan tâm, tín chỉ các-bon rừng được xác định là một hướng đi mới để khai thác hiệu quả hơn giá trị của rừng, song song với nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng (DVMTR).
Rừng không chỉ mang lại gỗ, lâm sản hay giá trị cảnh quan. Rừng còn cung cấp những giá trị môi trường thiết yếu như điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, bảo tồn hệ sinh thái và hấp thụ, lưu giữ các-bon. Khi những giá trị ấy từng bước được lượng hóa và gắn với cơ chế tài chính phù hợp, rừng có thêm nguồn lực để được bảo vệ tốt hơn, người giữ rừng có thêm động lực và cộng đồng có thêm cơ hội cải thiện sinh kế.

Rừng nguyên sinh TP Đà Nẵng - Nơi tạo giá trị tín chỉ các-bon.
Tại Đà Nẵng, cơ chế chi trả DVMTR đã tạo nền tảng quan trọng cho quá trình này. Thông qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BV và PTR) thành phố, nguồn tiền từ các đơn vị sử dụng DVMTR được thu, quản lý và chi trả cho các chủ rừng, cộng đồng và lực lượng tham gia quản lý, bảo vệ rừng (QLBVR) theo quy định. Cơ chế đó đã từng bước chuyển cách tiếp cận từ “Nhà nước hỗ trợ bảo vệ rừng” sang “xã hội cùng chi trả cho những giá trị mà rừng mang lại”.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng và Việt Nam thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, một giá trị mới của rừng đang được quan tâm mạnh mẽ: khả năng hấp thụ và lưu giữ các-bon.
Nguồn lực từ DVMTR
Chi trả DVMTR đã tạo ra một phương thức tài chính tương đối rõ ràng: những tổ chức, cá nhân được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường do rừng cung cấp thực hiện nghĩa vụ chi trả; nguồn tiền sau đó được sử dụng để hỗ trợ chủ rừng và người dân thực hiện trách nhiệm QLBVR.
Tín chỉ các-bon rừng có thể được nhìn nhận trong mối liên hệ với tư duy đó. Khi rừng hấp thụ và lưu giữ các-bon, lượng giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ được xác định theo các phương pháp, tiêu chuẩn và quy trình kỹ thuật phù hợp có thể trở thành cơ sở để hình thành tín chỉ các-bon. Tuy nhiên, đây không phải là việc “bán lượng các-bon có sẵn trong rừng”, mà là một quá trình đòi hỏi điều tra, xác định đường cơ sở, đo đạc, báo cáo, thẩm định, xác minh và tuân thủ các quy định của pháp luật.

Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tổ chức Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026.
Đề án phát triển và quản lý tín chỉ các-bon rừng trên địa bàn TP Đà Nẵng giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035 đã xác định rõ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng là một DVMTR quan trọng; tín chỉ các-bon rừng là loại hàng hóa đặc biệt gắn chặt với nhiệm vụ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.
Nếu chi trả DVMTR đã tạo ra nguồn lực tài chính thường xuyên gắn với những dịch vụ môi trường mà rừng cung cấp, thì phát triển tín chỉ các-bon có thể mở thêm một kênh huy động nguồn lực từ giá trị hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng, phù hợp với lộ trình hình thành thị trường các-bon của Việt Nam.
Quỹ BV và PTR - nền tảng để kết nối các nguồn lực
Đối với Đà Nẵng, việc phát triển tín chỉ các-bon rừng không bắt đầu từ con số không. Thành phố đã có hệ thống quản lý rừng, chủ rừng, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng và đặc biệt là cơ chế tổ chức thực hiện DVMTR thông qua Quỹ BV và PTR. Đây là nền tảng quan trọng để tiếp tục hình thành cơ chế quản lý nguồn thu từ các-bon rừng.
Theo Đề án, Sở Nông nghiệp và Môi trường TP Đà Nẵng chủ trì tổ chức thực hiện cơ chế quản lý, tiếp nhận, sử dụng và chi trả nguồn thu từ tín chỉ các-bon rừng thông qua Quỹ BV và PTR, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng mục đích, hiệu quả; thực hiện hạch toán, theo dõi riêng và phân chia lợi ích theo cơ chế được cấp có thẩm quyền ban hành.
Điều này mở ra một hướng phát triển đáng chú ý: Quỹ BV và PTR không chỉ là nơi tổ chức thực hiện chính sách DVMTR mà còn có thể trở thành một mắt xích quan trọng trong hệ thống tài chính môi trường rừng của thành phố, nơi kết nối nguồn thu từ các dịch vụ môi trường với nhiệm vụ BVPTR và sinh kế của người dân.
Với kinh nghiệm trong tổ chức thu, quản lý, chi trả DVMTR, theo dõi đối tượng hưởng lợi và phối hợp với chủ rừng, cộng đồng, chính quyền địa phương, Quỹ có điều kiện thuận lợi để tham gia thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến quản lý nguồn thu và phân chia lợi ích từ tín chỉ các-bon rừng theo quy định.
Không để “giá trị các-bon” tách khỏi giá trị của rừng
Một trong những yêu cầu quan trọng nhất khi phát triển thị trường các-bon rừng là phải bảo đảm lợi ích quay trở lại với rừng và người giữ rừng. Đề án của thành phố đặt nguyên tắc phân chia lợi ích từ tín chỉ các-bon rừng phải công bằng, hợp lý, minh bạch; ưu tiên cho quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững, đồng thời góp phần cải thiện sinh kế, nâng cao đời sống cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng.
Định hướng này rất gần với mục tiêu cốt lõi của chính sách DVMTR: “ai bảo vệ rừng, người đó phải được hưởng lợi tương xứng từ những giá trị môi trường mà rừng tạo ra”. Do đó, phát triển tín chỉ các-bon cần được đặt trong tổng thể các chính sách lâm nghiệp và DVMTR hiện có, tránh tạo ra cơ chế chồng chéo hoặc làm phát sinh cách hiểu rằng một diện tích rừng có thể đồng thời nhận nhiều khoản chi trả cho cùng một giá trị mà không có sự phân định rõ ràng.
Đề án cũng yêu cầu các dự án các-bon phải chứng minh tính bổ sung, tránh trùng lặp về mục tiêu, nội dung và kết quả với các chương trình, dự án các-bon khác trên cùng diện tích rừng hoặc cùng nguồn phát thải. Đây sẽ là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện tại cơ sở, nhất là đối với những diện tích rừng đang được hưởng chính sách DVMTR.
Người giữ rừng là trung tâm của quá trình chuyển đổi
Thị trường các-bon có thể được vận hành bằng những thuật ngữ mang tính kỹ thuật chuyên sâu, nhưng đằng sau những thuật ngữ đó vẫn là những cánh rừng và những người trực tiếp bảo vệ rừng.
Đề án Đà Nẵng đặt mục tiêu đến năm 2030 hướng dẫn tối thiểu 70% chủ rừng là tổ chức, hộ gia đình và cộng đồng dân cư có rừng đủ điều kiện tham gia các hoạt động liên quan đến các-bon rừng. Thành phố cũng đặt mục tiêu triển khai từ 1-3 dự án các-bon rừng thí điểm, từng bước hình thành nguồn cung tín chỉ đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Lực lượng chuyên trách bảo vệ rừng tổ chức tuần tra rừng.
Để thực hiện được mục tiêu này, công tác tuyên truyền cần đi trước một bước. Chủ rừng và cộng đồng cần được cung cấp thông tin đầy đủ về điều kiện tham gia, quyền lợi, trách nhiệm, quy trình kỹ thuật, cơ chế hợp tác và nguyên tắc phân chia lợi ích.
Đây cũng là lĩnh vực mà Quỹ BV và PTR có thể phát huy vai trò trong tuyên truyền, hướng dẫn và kết nối với chủ rừng, cộng đồng dân cư - những đối tượng đã có mối quan hệ trực tiếp với chính sách DVMTR.
Từ “chi trả cho rừng” đến “đầu tư cho tương lai của rừng”
Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 có tối thiểu một dự án đủ điều kiện đăng ký và tham gia giao dịch tín chỉ các-bon trên thị trường trong nước; đồng thời phấn đấu có từ 1-3 dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, hoàn thành hồ sơ đăng ký và từng bước hình thành các giao dịch tín chỉ các-bon hợp pháp.

Cộng đồng dân cư thôn tham gia trực tiếp vào công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Nếu chính sách DVMTR đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc định giá và chi trả đối với giá trị môi trường của rừng, thì tín chỉ các-bon có thể là bước phát triển tiếp theo, mở rộng không gian tài chính cho lâm nghiệp trong nền kinh tế xanh.
Với Đà Nẵng, mục tiêu cuối cùng không phải là tạo ra thật nhiều tín chỉ bằng mọi giá, mà là hình thành những tín chỉ có chất lượng, minh bạch, có giá trị môi trường thực chất và mang lại lợi ích thiết thực cho công tác quản lý, bảo vệ rừng và người dân.
Khi nguồn thu từ DVMTR được củng cố, nguồn lực từ các-bon được hình thành và các nguồn tài chính xanh tiếp tục được huy động, rừng Đà Nẵng sẽ có thêm “nguồn vốn” để phát triển bền vững. Và khi người dân thấy rõ rằng giữ rừng không chỉ là trách nhiệm mà còn tạo ra giá trị kinh tế, khi đó bảo vệ rừng sẽ ngày càng trở thành một lựa chọn sinh kế bền vững.
Từ những khoản chi trả DVMTR hôm nay đến những tín chỉ các-bon của ngày mai, mục tiêu xuyên suốt vẫn là giữ cho rừng xanh hơn, người giữ rừng có cuộc sống tốt hơn và những giá trị mà rừng tạo ra được xã hội ghi nhận, chia sẻ công bằng và tái đầu tư trở lại cho tương lai.
Nguồn CAND: https://cand.vn/mo-them-nguon-luc-cho-rung-da-nang-post822433.html

