Một năm triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW: Thời điểm cho bước chuyển tăng tốc

Sau một năm triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW, nhiều chính sách giáo dục đã bắt đầu đi vào cuộc sống.

Giờ học tại Trường Tiểu học Tân Kiều 3 (xã Đốc Binh Kiều, Đồng Tháp).

Giờ học tại Trường Tiểu học Tân Kiều 3 (xã Đốc Binh Kiều, Đồng Tháp).

Theo GS.TSKH.BS Dương Quý Sỹ - Ủy viên Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển Nhân lực, giai đoạn tiếp theo cần chuyển mạnh sang “thực thi chính sách”, nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm nguồn lực để tạo kết quả chuyển biến thực chất.

Chuyển động mạnh về thể chế và cơ hội tiếp cận giáo dục

- Theo GS, đâu là những chuyển biến đáng chú ý nhất của ngành Giáo dục sau một năm triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW?

Theo tôi, chuyển biến đáng chú ý nhất sau một năm triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục - đào tạo là những định hướng lớn đã từng bước được thể chế hóa thành chính sách và chuyển hóa thành những thay đổi cụ thể có tác động trực tiếp đối với người học, nhà giáo, cơ sở giáo dục.

Theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, trong năm học 2025 - 2026 đã có 3 luật, 2 nghị quyết của Quốc hội, 41 nghị định, nghị quyết, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và 79 thông tư được ban hành. Hệ thống văn bản này tập trung vào nhiều vấn đề cốt lõi như phân cấp, phân quyền; chính sách đối với nhà giáo và người học; giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học; khoa học - công nghệ và chuyển đổi số.

Nhiều chính sách lớn như miễn - giảm học phí, miễn phí sách giáo khoa, hỗ trợ bữa ăn, học bổng, tín dụng; tăng phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo; mở rộng tự chủ trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp đã được cụ thể hóa và triển khai đồng bộ. Đây là những chính sách quan trọng giúp tạo thêm nguồn lực cho hệ thống giáo dục quốc dân, giảm bớt những rào cản trong tiếp cận giáo dục và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo.

Một chuyển biến đáng mừng là hiệu quả của việc sắp xếp hệ thống trường học và tinh gọn bộ máy tổ chức, gắn với nâng cao năng lực quản trị, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp; thể hiện rõ nét thông qua kết quả tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026 - 2027 với chỉ tiêu tăng hơn 24% so với năm học trước. Đây là con số rất có ý nghĩa, bởi tuyển sinh vào lớp 10 tại nhiều tỉnh, thành phố lớn từ trước đến nay luôn là một trong những khâu gây áp lực lớn đối với học sinh và phụ huynh.

Nhiều chuyển biến mới cũng được thể hiện qua việc triển khai các chính sách theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW, hướng tới bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục. Trong đó, chủ trương xây dựng và đưa vào hoạt động các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đất liền tạo điều kiện học tập, sinh hoạt tốt hơn cho trẻ em vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và biên giới.

Việc tổ chức dạy và học các cấp cũng có nhiều chuyển biến quan trọng theo hướng tốt hơn. Chương trình giáo dục mầm non và Chương trình giáo dục phổ thông 2018 tiếp tục được triển khai ổn định; chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá tiếp tục được đổi mới. STEM, ngoại ngữ, năng lực số, hướng nghiệp và phân luồng được chú trọng hơn; chất lượng giáo dục đại trà, giáo dục mũi nhọn, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ cơ bản được duy trì.

Giáo dục nghề nghiệp đang đứng trước bước chuyển quan trọng với nhiều thay đổi theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025. Mô hình trung học nghề, điều chỉnh quy hoạch mạng lưới trường cao đẳng chất lượng cao và trọng điểm khu vực, chuẩn hóa cơ sở vật chất và chương trình đào tạo đang được triển khai; đồng bộ với các chương trình mục tiêu quốc gia về hiện đại hóa giáo dục và đào tạo. Từ đó, tạo nền tảng cơ cấu lại hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo hướng tăng quyền tự chủ, thúc đẩy liên thông, gắn chuẩn đầu ra với vị trí việc làm và phát huy vai trò chủ thể của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo.

Trong giáo dục đại học, thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW, xu hướng hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực quản trị và tự chủ, gắn kết đào tạo với khoa học và công nghệ - đổi mới và sáng tạo, đào tạo theo nhu cầu nhân lực của nền kinh tế ngày càng phát triển rõ nét.

Chính sách tín dụng ưu đãi cho người học các ngành STEM, học bổng đối với khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược đã và đang tạo ra những tác động rất tích cực. Các chương trình đào tạo tài năng và phát triển nhân lực cho công nghiệp bán dẫn, điện hạt nhân, đường sắt tốc độ cao thu hút nhiều thí sinh giỏi. Điều này cho thấy giáo dục đại học đã bắt đầu gắn chặt hơn với những lĩnh vực ưu tiên phát triển của chiến lược quốc gia.

Sau cùng là những chuyển biến mới và tích cực thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 71-NQ/TW trong chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và hội nhập quốc tế, mở ra một không gian phát triển mới trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân.

GS.TSKH.BS Dương Quý Sỹ.

GS.TSKH.BS Dương Quý Sỹ.

Nhận diện khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn

- Đối chiếu với những mục tiêu lớn của Nghị quyết 71-NQ/TW, đâu là những vấn đề giáo dục cho thấy việc triển khai còn khoảng cách với mục tiêu đề ra?

Theo tôi, sau một năm triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW, bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận, vẫn có những khoảng cách cần thẳng thắn nhìn nhận. Khoảng cách này thể hiện ở cả năng lực tổ chức thực hiện, đội ngũ, điều kiện bảo đảm chất lượng, cơ hội tiếp cận giáo dục cho đến năng lực cạnh tranh quốc tế và khả năng huy động nguồn lực.

Trước hết, năng lực tổ chức thực hiện chưa đồng đều giữa các địa phương, cơ sở giáo dục và các cấp quản lý. Một bộ phận cán bộ vẫn lúng túng khi chuyển từ cách quản lý hành chính sang quản trị dựa trên tiêu chuẩn, dữ liệu và kết quả đầu ra. Đáng lưu ý, sau phân cấp, năng lực quản lý nhà nước về giáo dục ở cấp xã vẫn là một điểm cần tiếp tục củng cố. Bên cạnh đó, việc triển khai sắp xếp, tinh gọn hệ thống giáo dục được thực hiện trong thời gian ngắn nên cũng tạo ra nhiều khó khăn và áp lực trong quá trình thực hiện.

Bảo đảm về cơ cấu đội ngũ giáo viên các cấp học vẫn là một trong những điểm nghẽn trực tiếp đối với nâng cao chất lượng giáo dục. Còn tình trạng thiếu giáo viên ở các địa phương. Chủ trương xếp lương nhà giáo cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và một số chính sách hỗ trợ đặc thù chưa có đủ cơ sở triển khai đồng bộ.

Chênh lệch về điều kiện cơ sở vật chất, cơ hội tiếp cận và chất lượng giáo dục giữa các vùng, địa bàn còn lớn. Còn tình trạng thiếu phòng học, phòng học chức năng, thiết bị dạy học; một số vùng khó khăn còn tình trạng phòng học nhờ, mượn tạm. Tại các thành phố lớn, dân số cơ học tăng nhanh gây quá tải trường lớp; trong khi đó, ở vùng sâu, xa, biên giới còn khó khăn về cơ sở hạ tầng, đội ngũ cán bộ giáo dục và dịch vụ hỗ trợ giáo dục khác.

Ngoài ra, cụ thể hóa thể chế để có chính sách phù hợp với thực tiễn trong việc tăng cường năng lực hiện đại hóa giáo dục - đào tạo và cạnh tranh quốc tế của giáo dục Việt Nam chưa tương xứng với tiềm năng. Khả năng cân đối ngân sách Nhà nước và huy động nguồn lực xã hội còn hạn chế, không đáp ứng yêu cầu đột phá, hiện đại hóa giáo dục. Cơ chế phân bổ ngân sách Nhà nước cho giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp theo sứ mạng, chất lượng và kết quả đầu ra chưa được vận hành thống nhất.

- GS nhận diện những điểm nghẽn nào cần được tháo gỡ để việc thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW chuyển sang giai đoạn tăng tốc?

Theo tôi, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là khoảng cách từ chủ trương đến thể chế, từ thể chế đến tổ chức thực hiện và từ chính sách đến kết quả thực tế đối với người học. Nghị quyết 71-NQ/TW đã xác lập những định hướng rất rõ, nhiều cơ chế mới đã được ban hành, nhưng một số nội dung vẫn cần tiếp tục cụ thể hóa và quan trọng hơn là phải bảo đảm đủ nguồn lực, năng lực quản trị và trách nhiệm thực thi.

Điểm nghẽn thứ nhất là năng lực triển khai giữa các địa phương và cơ sở giáo dục còn chưa đồng đều. Sau sắp xếp bộ máy và thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, phân cấp, phân quyền ở một số địa phương chưa đi liền với phân định rõ trách nhiệm, nguồn lực, năng lực thực hiện.

Điểm nghẽn thứ hai là năng lực quản trị giáo dục chưa theo kịp tốc độ đổi mới thể chế; quản lý hành chính trong hệ thống giáo dục chưa phù hợp với mô hình quản trị giáo dục hiện đại.

Một điểm nghẽn khác là nguồn lực đầu tư cho giáo dục, đội ngũ nhà giáo chưa tương xứng; cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa giáo dục; chế độ đãi ngộ chưa đủ sức thu hút, giữ chân cán bộ giáo dục giỏi.

Do vậy, bước vào giai đoạn tăng tốc cần chuyển mạnh từ “ban hành chính sách” sang “quản trị kết quả”, nhằm “khơi thông năng lực thực thi, chuyển hóa chính sách thành kết quả thực chất”.

Thực hành tại Trường Trung cấp nghề Thanh, Thiếu niên khuyết tật, đặc biệt khó khăn Thanh Hóa. Ảnh: NTCC

Thực hành tại Trường Trung cấp nghề Thanh, Thiếu niên khuyết tật, đặc biệt khó khăn Thanh Hóa. Ảnh: NTCC

Biến thể chế thành năng lực phát triển thực sự của hệ thống giáo dục

- Từ những vấn đề trên, theo GS, ngành Giáo dục cần tập trung vào những giải pháp nào để chuyển từ tạo nền sang tăng tốc, đưa các mục tiêu của Nghị quyết 71-NQ/TW thành kết quả cụ thể?

Theo tôi, giai đoạn tới không chỉ cần tiếp tục hoàn thiện thể chế mà quan trọng hơn biến thể chế thành năng lực phát triển thực sự của hệ thống giáo dục. Tinh thần “Đổi mới tư duy - Chuyển biến mạnh mẽ - Kết quả thực chất” phải được thể hiện bằng những thay đổi cụ thể đối với người học, nhà giáo và chất lượng nguồn nhân lực.

Trước hết, cần đổi mới mạnh mẽ quản trị giáo dục nhằm chuyển biến mỗi mục tiêu của Nghị quyết 71-NQ/TW thành kết quả cụ thể, tiêu chí hóa bằng các chỉ số, lộ trình thực hiện, nguồn lực và chủ thể chịu trách nhiệm, với các mốc thời gian rõ ràng.

Thứ hai, phải coi nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là nhân tố quyết định của đổi mới. Không chỉ tuyển đủ mà phải tuyển đúng, bố trí hợp lý, đãi ngộ tương xứng và tạo môi trường để người giỏi muốn vào ngành, người có năng lực muốn cống hiến lâu dài.

Thứ ba, đầu tư giáo dục cần chuyển từ phân bổ nguồn lực sang đầu tư theo mục tiêu và hiệu quả, ưu tiên giải quyết thiếu hụt về giáo viên, trường lớp, phòng thực hành, hạ tầng số; đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền.

Với giáo dục nghề nghiệp, cần cơ cấu mạng lưới, ngành nghề theo nhu cầu nhân lực và thị trường lao động; đưa doanh nghiệp từ vai trò phối hợp trở thành chủ thể thực chất của quá trình đào tạo, cùng xây dựng chuẩn năng lực, tổ chức thực hành và đánh giá đầu ra.

Với giáo dục đại học, phát triển các ngành STEM và các lĩnh vực công nghệ chiến lược phải gắn với đội ngũ giảng viên, nghiên cứu khoa học, phòng thí nghiệm, đổi mới sáng tạo, nhu cầu nhân lực. Đại học phải trở thành trung tâm đào tạo nhân lực trình độ cao, sản sinh tri thức và công nghệ cho đất nước.

Chuyển đổi số và AI cần được xem là công cụ nâng cao chất lượng, năng suất giáo dục, giúp giảm hành chính, hỗ trợ người thầy, cá thể hóa học tập, quản trị dựa trên dữ liệu, chứ không đơn thuần số hóa những quy trình cũ.

Theo tôi, giai đoạn tăng tốc cần tập trung vào ba nguyên tắc: “Trao quyền gắn với trách nhiệm - đầu tư gắn với hiệu quả - chính sách gắn với kết quả”. Nghị quyết 71-NQ/TW chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được chuyển hóa thành năng lực của người thầy, cơ hội của người học, chất lượng của nhà trường và nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

- Xin cảm ơn GS!

“Sau một năm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW, giáo dục Việt Nam đang có sự chuyển động đồng thời ở thể chế, cơ hội tiếp cận giáo dục, chất lượng đào tạo và mô hình phát triển nguồn nhân lực. Điểm quan trọng là những thay đổi này đã bắt đầu tác động vào thực tiễn đời sống giáo dục. Đây chính là nền tảng để các mục tiêu đột phá mà Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt ra tiếp tục được chuyển hóa thành những kết quả cụ thể trong những năm tới”. - GS.TSKH.BS Dương Quý Sỹ

Hiếu Nguyễn (thực hiện)

Nguồn GD&TĐ: https://giaoducthoidai.vn/mot-nam-trien-khai-nghi-quyet-so-71-nqtw-thoi-diem-cho-buoc-chuyen-tang-toc-post792409.html