Nâng cao hiệu quả thực thi chiến lược chuyển đổi số trong khu vực công
Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy hiện đại hóa quản trị công và ứng dụng công nghệ vào phục vụ người dân, chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu để nâng cao hiệu quả vận hành bộ máy nhà nước và đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, quá trình này chịu tác động đồng thời của thể chế, hạ tầng, nhân lực và mức độ sẵn sàng của công dân số. Trên cơ sở đó, nghiên cứu từ nhóm tác giả thuộc Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH) được thực hiện nhằm hệ thống hóa các khía cạnh lý thuyết về hiệu quả chuyển đổi số khu vực công, phân tích thực trạng triển khai tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả thực thi chiến lược chuyển đổi số trong giai đoạn tới.
Chuyển đổi số - động lực mới của quản trị công hiện đại
Chuyển đổi số (CĐS) đang định hình lại cách thức tổ chức hoạt động của cả khu vực tư và khu vực công, từ mô hình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp đến phương thức cung cấp dịch vụ hành chính cho người dân. Nhiều nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng chuyển đổi số không chỉ mang ý nghĩa công nghệ, mà còn là đòn bẩy nâng cao hiệu quả quản lý, tăng cường minh bạch và tạo giá trị công mới trong quá trình phục vụ xã hội. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu dựa trên tri thức và dữ liệu, các quốc gia đi đầu đều xem việc ứng dụng công nghệ, tái thiết quy trình và xây dựng năng lực số như một lợi thế chiến lược.
Đối với khu vực công, CĐS được thúc đẩy bởi cả áp lực nội tại của hệ thống hành chính lẫn kỳ vọng ngày càng cao của người dân. Tuy nhiên, CĐS không chỉ dừng ở việc đầu tư hạ tầng hay triển khai phần mềm, mà đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về quy trình làm việc, văn hóa tổ chức, năng lực của cán bộ công chức, sự tham gia của lãnh đạo, cũng như sự ủng hộ của toàn xã hội. Ở nhiều quốc gia, đây là một quá trình phức tạp, kéo theo yêu cầu cải cách thể chế, hoàn thiện pháp lý và xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành.
Tại Việt Nam, quyết tâm chính trị về CĐS thể hiện rõ nét qua hàng loạt chủ trương quan trọng. Tiến trình chuyển đổi số được định hướng bởi Quyết định 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2030, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá khoa học - công nghệ và chuyển đổi số quốc gia, cùng Nghị quyết 03-NQ-CP của Chính phủ về chương trình hành động triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW tại các địa phương. Tuy nhiên, kết quả báo cáo cho thấy nhiều điểm nghẽn vẫn tồn tại, trải rộng từ hành lang pháp lý, hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực, đến công tác tuyên truyền, nâng cao kỹ năng số và năng lực quản trị trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh chóng.
Trước bối cảnh đó, nghiên cứu được triển khai nhằm trả lời câu hỏi trung tâm: Làm thế nào để nâng cao hiệu quả thực thi chiến lược chuyển đổi số trong khu vực công Việt Nam?
Các yếu tố quyết định hiệu quả chuyển đổi số
Nghiên cứu tổng hợp lý thuyết quốc tế và dữ liệu thực tiễn từ các báo cáo của Bộ Thông tin & Truyền thông, bộ, ngành địa phương và các nguồn học thuật liên quan nhằm xây dựng khung phân tích chuyên sâu về các yếu tố ảnh hưởng công cuộc CĐS.


Các cơ sở lý thuyết về quản lý công và chuyển đổi số trong khu vực công.
Từ các mô hình, nền tảng lý thuyết kết hợp với các báo cáo hàng năm, nhóm tác giả xác định CĐS trong khu vực công là một quá trình thay đổi hệ thống, đòi hỏi sự gắn kết giữa chiến lược, thể chế, hạ tầng, nhân lực và mức độ đáp ứng của xã hội. Đồng thời, thông qua nghiên cứu, nhóm tác giả chỉ ra 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ trưởng thành số bao gồm:
Chính sách và chiến lược số - định hướng dài hạn, hành lang pháp lý, mức độ đồng bộ và khả năng thích ứng với công nghệ mới.
Hạ tầng công nghệ - năng lực kết nối, cơ sở dữ liệu, nền tảng số, điện toán đám mây, 5G, an toàn thông tin.
Nguồn nhân lực số - kỹ năng số của cán bộ công chức, năng lực chuyên môn sâu về công nghệ, cơ chế đào tạo - bồi dưỡng - thu hút nhân tài.
Công dân số và xã hội số - mức độ tiếp cận, kỹ năng số, hành vi số, nhận thức của người dân trong quá trình sử dụng dịch vụ số.
Quản trị và vận hành - phối hợp liên ngành, ra quyết định dựa trên dữ liệu, tiêu chí đo lường, phân bổ nguồn lực và cơ chế giám sát.
Khung phân tích này cho phép đánh giá toàn diện tình trạng CĐS trong khu vực công Việt Nam, đồng thời chỉ ra những điểm nghẽn cốt lõi cần được ưu tiên xử lý.
Bức tranh toàn cảnh về chuyển đổi số trong khu vực công tại Việt Nam: Thành tựu và thách thức
Thông qua nghiên cứu, nhóm tác giả nhận thấy CĐS trong khu vực công Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ với nhiều dấu hiệu khích lệ. Hệ thống chính phủ số đã mở rộng quy mô hoạt động, từ việc xử lý văn bản, điều hành đến tổ chức họp trực tuyến, giúp thay thế gần một triệu hồ sơ giấy và rút ngắn đáng kể thời gian xử lý công việc giữa các cấp chính quyền. Dữ liệu bắt đầu trở thành “hạ tầng mềm” quan trọng khi nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia đã kết nối hơn 90 cơ quan và doanh nghiệp, thực hiện hàng tỷ giao dịch mỗi năm, qua đó tạo nên một môi trường vận hành dựa trên số liệu thay vì giấy tờ truyền thống.
Ở hạ tầng số, những tiến bộ mang tính bước ngoặt như việc phủ sóng 5G tại các tỉnh, thành hay phát triển các cơ sở dữ liệu quốc gia trọng yếu cho thấy nỗ lực bền bỉ trong xây dựng nền tảng kỹ thuật phục vụ chuyển đổi số quốc gia. Việt Nam trở thành 1 trong 6 quốc gia làm chủ công nghệ 5G, mở ra điều kiện cần để các dịch vụ công trực tuyến hoạt động ổn định, nhanh và đồng bộ hơn.
Nguồn nhân lực và năng lực số của cộng đồng cũng ghi nhận chuyển biến tích cực. Hệ thống đào tạo số phủ rộng tới hàng trăm nghìn cán bộ, công chức và hàng chục triệu người dân; mạng lưới gần 380.000 thành viên Tổ công nghệ số cộng đồng hiện diện ở các tỉnh, thành đã trở thành cầu nối quan trọng giúp người dân tiếp cận công nghệ nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Song hành với những thành tựu, nghiên cứu cũng chỉ ra một loạt thách thức mang tính hệ thống. Nhiều địa phương vẫn loay hoay với các điểm nghẽn về hành lang pháp lý, sự thiếu đồng bộ trong đầu tư hạ tầng, hạn chế về năng lực quản trị và điều hành chương trình chuyển đổi số, cũng như sự chênh lệch đáng kể về kỹ năng số giữa các nhóm dân cư và sự thiếu hụt lực lượng nhân sự có chuyên môn sâu về các lĩnh vực như AI, dữ liệu lớn hay an ninh mạng khi so với nhu cầu thực tế. Việc phối hợp giữa các bộ, ngành đôi khi chưa hiệu quả, trong khi tiêu chí đo lường kết quả chuyển đổi số vẫn còn thiếu cụ thể, khiến quá trình đánh giá khó đạt được tính minh bạch và nhất quán.
Những kiến nghị trọng tâm để nâng cao hiệu quả chuyển đổi số
Hiệu quả chuyển đổi số trong khu vực công phụ thuộc vào sự vận hành hài hòa của năm nhóm yếu tố cốt lõi: chính sách - hạ tầng công nghệ - nguồn nhân lực - công dân số - quản trị và vận hành, đồng thời đưa ra các kiến nghị theo 5 nhóm yếu tố:
(1) Chiến lược và chính sách chuyển đổi số: Các cơ quan trung ương và địa phương cần xây dựng chiến lược dài hạn, linh hoạt, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; đồng thời rà soát, tháo gỡ các rào cản thể chế, hoàn thiện hành lang pháp lý và ban hành cơ chế đặc thù cho đầu tư, mua sắm và ứng dụng công nghệ số.
(2) Hạ tầng công nghệ: Nghiên cứu khuyến nghị đẩy mạnh phát triển hạ tầng số như mở rộng phủ sóng 5G, nâng cấp hệ thống cáp quang, đầu tư trung tâm dữ liệu quốc gia, khung pháp lý về dữ liệu, dữ liệu mở và hệ thống Big Data, đồng thời thúc đẩy nền tảng số và ứng dụng các công nghệ đột phá như AI, IoT, Blockchain và điện toán đám mây để hỗ trợ quá trình ra quyết định và cung cấp dịch vụ công hiệu quả hơn
(3) Nguồn nhân lực: Cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số, nâng cao năng lực triển khai công nghệ mới cho đội ngũ cán bộ công chức, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế và tạo môi trường học tập liên tục để thích ứng với tốc độ thay đổi nhanh của công nghệ
(4) Công dân số và xã hội số: Các giải pháp truyền thông và thay đổi nhận thức cần được triển khai theo hướng “vết dầu loang”, bắt đầu từ các dịch vụ đơn giản, hữu ích để người dân thấy rõ giá trị, từ đó thúc đẩy thói quen sử dụng dịch vụ công trực tuyến và hình thành cộng đồng số rộng khắp.
(5) Quản trị vận hành các dự án chuyển đổi số: Nghiên cứu nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành, tăng cường liên thông dữ liệu, triển khai nền tảng quản lý tập trung, ứng dụng AI - Big Data - IoT trong giám sát và dự báo, đồng thời bảo đảm an toàn thông tin và bảo mật dữ liệu trong toàn bộ quá trình triển khai các dự án chuyển đổi số.
Nhóm tác giả:
TS. Thái Kim Phụng, TS. Nguyễn Văn Dư
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Đây là bài viết nằm trong chuỗi bài lan tỏa nghiên cứu và kiến thức ứng dụng với thông điệp “Research Contribution For All – Nghiên Cứu Vì Cộng Đồng” do UEH phối hợp cùng Báo và Phát thanh, Truyền hình Khánh Hòa thực hiện nhằm mục tiêu đồng hành cùng sự phát triển bền vững của tỉnh Khánh Hòa. UEH trân trọng kính mời Quý độc giả cùng đón xem bản tin Tri thức khoa học tiếp theo.












