Nâng năng suất, mở rộng dư địa tăng trưởng
Trong quá trình tái định hình mô hình tăng trưởng, năng suất số, tăng trưởng xanh và thể chế cùng tạo nền tảng nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế...

TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, tại Diễn đàn Năng suất chất lượng Quốc gia 2026.
Tái định hình mô hình tăng trưởng thực chất là thay đổi cách nền kinh tế tạo ra giá trị. Trong đó, năng suất số tạo ra năng lực sản xuất mới – khai thác dữ liệu, AI, công nghệ và tri thức để tạo thêm giá trị.
Tăng trưởng xanh mở ra không gian phát triển mới – tạo ra nhiều giá trị hơn với ít năng lượng, tài nguyên và carbon hơn, đồng thời giảm tổn thất do biến đổi khí hậu. Thể chế kiến tạo tạo điều kiện để những năng lực đó được phổ cập, thương mại hóa và chuyển hóa thành kết quả tăng trưởng. Ba yếu tố này cuối cùng hội tụ ở năng suất.
Đây cũng chính là những chia sẻ của TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, tại Diễn đàn Năng suất chất lượng Quốc gia 2026 với chủ đề “Bứt phá năng suất dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Việt Nam tiến nhanh tới Tầm nhìn 2045”.
“Năng suất cao hơn tạo nền tảng cho chất lượng tăng trưởng tốt hơn; chất lượng tăng trưởng tốt hơn nâng sức cạnh tranh; và sức cạnh tranh cao hơn tạo cơ sở để cải thiện thu nhập và mức sống,” ông Hiển nhấn mạnh. “Vì vậy, câu chuyện 2026–2045 không chỉ là làm thế nào để GDP tăng nhanh hơn, mà quan trọng hơn là thay đổi cách nền kinh tế tạo ra giá trị để tăng trưởng đồng thời nhanh hơn, bền vững hơn và có chất lượng cao hơn. Đó chính là yêu cầu cốt lõi của quá trình tái định hình mô hình tăng trưởng.”
NĂNG SUẤT SỐ: KHÔNG CHỈ LÀ SỐ HOÁ
Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, số hóa chỉ thực sự tạo ra năng suất khi làm thay đổi cách doanh nghiệp vận hành. Quá trình chuyển đổi có thể được hình dung qua bốn cấp độ, bao gồm: Số hóa dữ liệu – chuyển hồ sơ, thông tin từ dạng vật lý sang dữ liệu số; Số hóa quy trình – kết nối các khâu mua hàng, sản xuất, bán hàng, logistics, kế toán trên nền tảng số; AI, tự động hóa và phân tích dữ liệu; Năng suất số – khi công nghệ làm thay đổi thực sự cách doanh nghiệp tổ chức sản xuất, ra quyết định và tạo ra giá trị.
“Không nên đồng nhất việc mua công nghệ với tăng năng suất,” ông Hiển nói. Một doanh nghiệp có thể đầu tư lớn vào phần mềm nhưng nếu quy trình, phương thức quản trị và kỹ năng của người lao động không thay đổi thì năng suất có thể không tăng. Điểm quan trọng là công nghệ phải đi vào tổ chức sản xuất, thay vì chỉ được bổ sung vào hệ thống công nghệ thông tin.”
Tuy nhiên, hiệu quả năng suất của chuyển đổi số cần thời gian để hình thành. Theo nghiên cứu, tác động của chuyển đổi số đến TFP không xuất hiện ngay lập tức. Ở giai đoạn đầu, doanh nghiệp phải chịu chi phí đầu tư, chi phí học hỏi và thậm chí có thể xảy ra gián đoạn trong quá trình thay đổi quy trình. Nhưng ở giai đoạn sau, khi doanh nghiệp đã điều chỉnh quy trình, đào tạo người lao động, tích hợp dữ liệu và thay đổi tổ chức sản xuất, lợi ích về năng suất mới bắt đầu thể hiện rõ hơn.
Điều này đặt ra một hàm ý quan trọng đối với chính sách. Theo ông Hiển, hiệu quả của chuyển đổi số không nên chỉ được đánh giá thông qua số doanh nghiệp mua phần mềm, số thiết bị được hỗ trợ hay tỷ lệ hồ sơ được số hóa. Thay vào đó, chính sách cần hỗ trợ doanh nghiệp đi hết quá trình chuyển đổi, từ đầu tư công nghệ đến thay đổi quy trình, kỹ năng và quản trị.
Trong quá trình này, trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra một dư địa lớn cho tăng năng suất và có thể tạo ra bước nhảy về TFP, nhưng điều kiện là công nghệ phải được hấp thụ và tích hợp rộng rãi. Theo kịch bản nghiên cứu, tỷ lệ ứng dụng AI có thể tăng từ khoảng 15% năm 2025 lên 50% năm 2030 và 90% vào năm 2045. Tương ứng, đóng góp của AI vào tăng TFP có thể tăng từ 0,24 điểm phần trăm năm 2025 lên 0,95 điểm năm 2030 và 1,92 điểm năm 2045.
Tuy nhiên, AI không tạo ra năng suất chỉ vì doanh nghiệp sở hữu hoặc sử dụng công nghệ này. Giá trị chỉ xuất hiện khi AI được tích hợp vào sản xuất, quản trị và quá trình ra quyết định, đồng thời doanh nghiệp có dữ liệu tốt, nhân lực phù hợp, hạ tầng số và các quy trình quản trị mới. Vì vậy, thách thức của Việt Nam không còn chỉ là phổ cập AI, mà là nâng năng lực hấp thụ và khai thác AI của doanh nghiệp.
Từ đó, vấn đề lớn hơn đặt ra là làm thế nào để những đột phá về công nghệ có thể chuyển thành năng suất trên diện rộng. Nếu AI và các công nghệ mới chỉ được hấp thụ nhanh bởi những doanh nghiệp lớn, có vốn, dữ liệu và nhân lực tốt, nền kinh tế có thể hình thành những “ốc đảo năng suất cao”, trong khi khoảng cách giữa các nhóm doanh nghiệp ngày càng lớn.
Theo ước tính của Nhóm Nghiên cứu Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược từ Điều tra doanh nghiệp hàng năm, khoảng cách năng suất giữa các nhóm doanh nghiệp còn rất lớn. Cụ thể, TFP bình quân của doanh nghiệp lớn khoảng 19,99, doanh nghiệp vừa 13,19, doanh nghiệp nhỏ 8,09. Điều này cho thấy khả năng tiếp nhận và khai thác công nghệ không đồng đều. Nếu công nghệ và năng lực quản trị mới chỉ tập trung ở một nhóm doanh nghiệp dẫn đầu, nền kinh tế có thể hình thành những “ốc đảo năng suất cao”, nhưng năng suất chung vẫn tăng chậm.
Do đó, mục tiêu chính sách phải chuyển từ tạo ra một số doanh nghiệp dẫn đầu sang tạo khả năng lan tỏa năng suất. Doanh nghiệp lớn và FDI có thể dẫn dắt chuỗi cung ứng; hạ tầng và dữ liệu cần được mở rộng; AI phải có chi phí phù hợp với SME; đồng thời phải nâng năng lực quản trị và kỹ năng của doanh nghiệp. “Nếu làm được điều đó, công nghệ mới sẽ trở thành năng suất của toàn nền kinh tế, chứ không chỉ là năng suất của một nhóm doanh nghiệp,” ông Hiển cho biết.
TĂNG TRƯỞNG XANH: BÀI TOÀN NĂNG SUẤT MỚI
Tăng trưởng xanh thường được nhìn nhận dưới góc độ môi trường, nhưng theo TS. Nguyễn Đức Hiển, cần đặt vấn đề này trong góc nhìn năng suất, bởi xanh hóa không chỉ giúp giảm phát thải mà còn có thể tạo ra hiệu quả và giá trị kinh tế. Nếu doanh nghiệp sử dụng ít năng lượng, nguyên liệu, nước và tài nguyên hơn để tạo ra cùng một sản lượng, chi phí đầu vào sẽ giảm và sức cạnh tranh được nâng lên.
Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược về thực hành ESG tại 1.180 doanh nghiệp Việt Nam và ASEAN cho thấy thực hành ESG có tác động của tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam có điểm ESG trung bình 2.39, thấp hơn đáng kể so với mức 3.77 của ASEAN. Tuy nhiên, ROA trung bình của Việt Nam đạt 5.76%, cao hơn mức 5.23% của ASEAN. Sự kết hợp này cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam vẫn duy trì hiệu quả sinh lời tương đối tốt dù mức độ thực hành ESG chưa cao.
“Điều này gợi mở rằng vẫn còn dư địa lớn để ESG tạo thêm giá trị, nếu doanh nghiệp chuyển từ tuân thủ hình thức sang tích hợp ESG vào vận hành, quản trị rủi ro và tiếp cận vốn,” ông Hiển chia sẻ. “Như vậy, xanh hóa không nhất thiết phải được nhìn như một chi phí bổ sung. Nếu được thực hiện đúng, xanh hóa có thể trở thành một phương thức nâng năng suất và sức cạnh tranh.”
Tuy nhiên, chuyển đổi xanh không chỉ là câu chuyện về hiệu quả mà còn liên quan trực tiếp đến khả năng duy trì tăng trưởng trong tương lai, khi biến đổi khí hậu ngày càng trở thành một rủi ro kinh tế.
Theo World Bank, nếu không tăng cường thích ứng, GDP của Việt Nam có thể thấp hơn khoảng 9,1% vào năm 2030 và 12,5% vào năm 2050 so với kịch bản cơ sở. World Bank ước tính Việt Nam cần khoảng 233 tỷ USD cho thích ứng trong giai đoạn đến 2040, tương đương khoảng 0,75% GDP mỗi năm. Đây là quy mô lớn, nhưng chi phí không hành động còn lớn hơn. Ước tính của World Bank cho thấy nếu thực hiện các biện pháp thích ứng, mức giảm GDP dự kiến vào năm 2050 có thể được giảm từ 12,5% xuống còn 6,7%
Điều này cũng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và việc làm. Những ngành sử dụng nhiều lao động như may mặc, điện tử có thể chịu tác động lớn từ stress nhiệt và gián đoạn sản xuất. Vì vậy, theo ông Hiển, đầu tư cho thích ứng khí hậu cần được coi là đầu tư phát triển, chứ không chỉ là chi phí môi trường. Đầu tư vào hạ tầng chống chịu, năng lượng, nước và bảo vệ người lao động thực chất là đầu tư để duy trì năng lực sản xuất và giảm tổn thất năng suất trong tương lai.
Trong bối cảnh đó, cách nhìn về tài nguyên cũng cần thay đổi: từ đầu vào để khai thác sang nguồn lực cần được tối ưu hóa. Bên cạnh năng suất lao động và TFP, cần đặt thêm câu hỏi: mỗi đơn vị tài nguyên tạo ra bao nhiêu giá trị? Một đơn vị điện năng tạo ra bao nhiêu giá trị gia tăng, một đơn vị nguyên liệu tạo ra bao nhiêu sản lượng, một mét khối nước tạo ra bao nhiêu giá trị và mỗi tấn carbon phát thải tương ứng với bao nhiêu giá trị kinh tế. Đây chính là cách tiếp cận năng suất tài nguyên.
Khi tài nguyên ngày càng khan hiếm và yêu cầu xanh ngày càng cao, nâng năng suất tài nguyên không chỉ giúp giảm áp lực lên môi trường mà còn là một cách để duy trì tăng trưởng khi các đầu vào truyền thống trở nên đắt đỏ hơn.
Cụ thể hơn, có thể nhìn vào hai chỉ tiêu là năng suất năng lượng và năng suất carbon để thấy rõ dư địa nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp. Sự khác biệt giữa các ngành về lượng giá trị tạo ra trên một đơn vị năng lượng sử dụng là rất lớn. Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan đạt khoảng 6,7 tỷ đồng/TOE, dệt may khoảng 5,5 tỷ đồng/TOE, nông, lâm nghiệp và thủy sản khoảng 4,1 tỷ đồng/TOE, trong khi viễn thông đạt khoảng 2,3 tỷ đồng/TOE.
Ở chiều ngược lại, một số ngành có năng suất năng lượng thấp hơn đáng kể, như sản xuất, chế biến thực phẩm khoảng 0,3 tỷ đồng/TOE, xây dựng khoảng 0,2 tỷ đồng/TOE, sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất khoảng 0,2 tỷ đồng/TOE, còn sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học khoảng 0,6 tỷ đồng/TOE.
“Như vậy, chênh lệch giữa các ngành là rất lớn. Ngành có năng suất năng lượng cao nhất trong biểu đồ tạo ra giá trị trên mỗi TOE cao hơn hàng chục lần so với một số ngành có năng suất thấp nhất,” ông Hiển nói. “Vấn đề không chỉ nằm ở việc chúng ta sử dụng bao nhiêu năng lượng, mà quan trọng hơn là một đơn vị năng lượng tạo ra bao nhiêu giá trị.”
Sự khác biệt cũng thể hiện rõ khi nhìn vào năng suất carbon. Sản xuất da và các sản phẩm liên quan đạt khoảng 2,25 tỷ đồng trên một tấn CO₂ phát thải, dệt may khoảng 1,76 tỷ đồng/tấn CO₂, trong khi viễn thông khoảng 0,81 tỷ đồng/tấn CO₂ và nông, lâm nghiệp, thủy sản khoảng 1,41 tỷ đồng/tấn CO₂. Ngược lại, một số ngành có năng suất carbon rất thấp: sản xuất, chế biến thực phẩm chỉ khoảng 0,11 tỷ đồng/tấn CO₂; xây dựng khoảng 0,11 tỷ đồng; sản xuất hóa chất khoảng 0,07 tỷ đồng; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học khoảng 0,22 tỷ đồng/tấn CO₂.
Như vậy, năng suất carbon giữa các ngành cũng có khoảng cách rất lớn. Cùng tạo ra một đơn vị giá trị kinh tế, lượng phát thải và hiệu quả sử dụng carbon giữa các ngành rất khác nhau. Đây là điểm quan trọng khi nhìn vào chuyển đổi xanh. World Bank năm 2025 nhận định Việt Nam vẫn là nền kinh tế tương đối thâm dụng carbon; cường độ phát thải khí nhà kính trên một đơn vị GDP của Việt Nam cao hơn 45,6% so với mức bình quân của các nước thu nhập trung bình.
“Vì vậy, nếu chỉ nhìn chuyển đổi xanh như một yêu cầu giảm phát thải, thì mới nhìn được một nửa vấn đề, nửa còn lại là nâng giá trị tạo ra trên mỗi đơn vị năng lượng, nguyên liệu và carbon,” ông Hiển khẳng định. “Đây chính là dư địa để doanh nghiệp đồng thời giảm chi phí đầu vào, giảm phát thải, nâng năng suất và tăng sức cạnh tranh. Chuyển đổi xanh, xét đến cùng, không chỉ là sử dụng ít tài nguyên hơn và phát thải ít hơn, mà là tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi đơn vị năng lượng, nguyên liệu và carbon.”
THỂ CHẾ LÀ HẠ TẦNG CỦA NĂNG SUẤT
Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, một công nghệ tốt nhưng thủ tục quá chậm, quy định thiếu rõ ràng hoặc thị trường thiếu cạnh tranh thì rất khó tạo ra năng suất trên diện rộng. Nếu công nghệ tạo ra khả năng mới, thì thể chế quyết định khả năng đó có trở thành năng suất hay không. Thể chế trực tiếp quyết định chi phí, thời gian, mức độ rủi ro và khả năng tiếp cận nguồn lực của doanh nghiệp. Thể chế tốt còn giúp vốn, nhân lực và công nghệ dịch chuyển đến nơi có khả năng tạo ra giá trị cao hơn.
“Vì vậy, chuyển từ tiền kiểm và quản lý sang hậu kiểm và kiến tạo không chỉ là thay đổi phương thức quản lý nhà nước,”ông Hiển nói. “Đây thực chất là một chính sách nâng năng suất, bởi nó giúp nguồn lực được phân bổ hiệu quả hơn.”
Trọng tâm trước hết là dữ liệu và AI, với yêu cầu làm rõ quyền dữ liệu, cơ chế chia sẻ, bảo mật và quản trị rủi ro AI.
Trong khoa học – công nghệ, cần rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường, tăng cường liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp, đồng thời thúc đẩy thương mại hóa. Với tài chính cho đổi mới sáng tạo, cần đa dạng hóa nguồn vốn và cơ chế chia sẻ rủi ro. Bên cạnh đó, cần có sandbox để các mô hình mới được thử nghiệm trong phạm vi kiểm soát, theo nguyên tắc “thử nghiệm nhanh – đánh giá nhanh – điều chỉnh nhanh”.
Bên cạnh đó, tái định hình mô hình tăng trưởng cũng đồng nghĩa với năm chuyển đổi lớn: từ tích lũy vốn sang tích lũy năng lực; từ lao động chi phí thấp sang nhân lực chất lượng cao; từ gia công – lắp ráp sang công nghệ, thiết kế và R&D; từ khai thác tài nguyên sang sử dụng tài nguyên hiệu quả và phát triển tuần hoàn; và từ quản lý, tiền kiểm sang kiến tạo, hậu kiểm. Năm chuyển đổi này không tách rời mà bổ trợ cho nhau, cùng hướng tới một thay đổi cốt lõi: từ tăng trưởng dựa vào “nhiều hơn” sang tăng trưởng dựa vào “tốt hơn”.
Để tạo cú hích năng suất, cần chuyển từ nhận diện vấn đề sang một chương trình hành động đồng bộ với sáu nhóm ưu tiên.
Thứ nhất, nâng năng suất doanh nghiệp, tập trung vào quản trị, chất lượng, tự động hóa và năng lực hấp thụ công nghệ, đặc biệt đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Thứ hai, phổ cập AI và công nghệ, bảo đảm công nghệ không chỉ tập trung ở nhóm doanh nghiệp dẫn đầu.
Thứ ba, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tăng liên kết viện – trường – doanh nghiệp và thúc đẩy thương mại hóa.
Thứ tư, xanh hóa năng suất, kết hợp tiết kiệm năng lượng, kinh tế tuần hoàn, tài chính xanh và ESG thực chất.
Thứ năm, tạo cú hích về thể chế, đặc biệt trong dữ liệu, sandbox, thị trường công nghệ và cạnh tranh.
Thứ sáu, đo lường lại tăng trưởng, không chỉ nhìn vào GDP mà cần theo dõi TFP, năng suất lao động, năng suất tài nguyên, giá trị gia tăng trong nước và năng lực công nghệ.
Đặc biệt với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chính sách cần tránh tạo thêm gánh nặng thủ tục và phải hỗ trợ doanh nghiệp thực sự chuyển đổi, thay vì chỉ hỗ trợ mua công nghệ.
Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/nang-nang-suat-mo-rong-du-dia-tang-truong.htm

